Lúc 8 giờ sáng thứ Hai, ngày 28.7.2014, tại nhà thờ Giáo xứ Hải Dương, hạt Hố Nai, Giáo phận Xuân Lộc. Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên - Giám mục Hải Phòng chủ sự lễ an táng Cha Cố Giuse Đặng Văn Quy - Dòng Thánh Thể. Cùng dâng lễ với Đức Cha, có Đức Ông Vinh Sơn Đặng Văn Tú. Cha Đaminh Trương Kim Hương - Đại diện đồng hương Hải Phòng tại miền Nam. Cha Giuse Bề trên Giám tỉnh Dòng Thánh Thể, Quý cha Quản hạt, Quý cha trong ngoài giáo hạt và các cha Dòng Thánh Thể. Dự lễ có đông đảo quý tu sĩ nam nữ, quý cộng đoàn phụng vụ trong ngoài xứ Hải Dương, quý gia đình linh tông huyết tộc của cha cố Giuse. Đoàn đồng tế từ trong nhà Dòng Thánh Thể tiến vào thánh đường, tới nơi di ảnh và thi hài cha cố Giuse, Quý Cha và Đức Cha cúi chào người anh em linh mục của mình, rồi tiếp tục tiến về cung thánh dâng lễ cầu nguyện cho cha cố. Bước vào thánh lễ, cha Dòng Thánh Thể đọc tóm tắt tiểu sử cha cố Giuse và đọc thư phân ưu của hai Đức Cha Giáo phận Xuân Lộc, thư phân ưu của cha Bề Trên Tổng Quyền Dòng Thánh Thể tại Roma. Ca đoàn cất cao bài ca nhập lễ: “Đi về nhà Chúa tim con reo hoan lạc Chúa ơi. Đi về nhà Chúa ôi bao nhiêu mến thương ngập trời. Lạy Chúa, đi về nhà chúa tim con reo hoan lạc Chúa ơi. Đi về nhà Chúa, đi về nhà Chúa ôi bao nhiêu mến thương ngập trời….” Mở đầu thánh lễ, Đức Cha Giuse chia sẻ: “Kính thưa Đức Ông, kính thưa cha Bề trên Giám tỉnh, tỉnh Dòng Thánh Thể Việt Nam, kính thưa cha Đaminh đại diện cho các linh mục tu sĩ và giáo dân Hải Phòng tại miền Nam, kính thưa quý cha quản hạt, kính thưa quý cha, kính thưa quý tu sĩ đại diện cho linh tông và huyết tộc của cha cố Giuse, kính thưa Ban hành giáo, kính thưa quý cụ, quý ông bà và anh chị em. Đối với chúng ta, những người tin vào quyền năng Thiên Chúa và tin vào sự phục sinh của Đức Giesu. Khi tham dự một lễ nghi an táng của một người thân, không chì là tiễn biệt và tiễn đưa người thân đến nơi an nghỉ cuối cùng; nhưng chúng ta còn có cơ hội ôn lại cuộc đời của người vừa nằm xuống, đồng thời cũng là để dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Cha cố Giuse Đặng Văn Quy, đã là người tiên phong trong những lãnh vực, người là một trong bảy linh mục được truyền chức ngày mồng 03 tháng 5 năm 1953 do Đức Cha Giuse Trương Cao Đại, là đợt truyền chức đầu tiên, cũng là đợt truyền chức duy nhất trong triều đại giám mục của ngài, với cương vị là giám mục Hải Phòng. Cha cố Giuse cũng là một trong những thành viên đầu tiên của Dòng Thánh Thể Việt Nam, khi dòng mới được thành lập vào năm 1972. Cha cố Giuse với hoài bão của mình mong ước trở về quê hương để rồi đặt viên đá nền tảng đầu tiên cho Cộng Đoàn Thánh Thể tại xứ Cựu Viên, Giáo phận Hải Phòng vào năm 2004. Chúa đã dùng cha cố Giuse để làm những điều lạ lùng và suốt cuộc đời của người, người đã tận tụy hy sinh yêu mến Giáo Hội, yêu mến Chúa Giesu Thánh Thể. Đối với giáo xứ quê hương Cựu Viên miền Bắc, ngài dù tuổi cao sức yếu; nhưng luôn luôn tận tụy hy sinh, sống chết với quê hương để khôi phục đức tin nơi lòng con người. Tưởng niệm một người vừa nằm xuống, đối với chúng ta cũng là dịp để dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, bởi vì Chúa ban cho chúng ta một mòn quà là cha cố Giuse, một món quà cho Dòng Thánh Thể, một món quà cho giáo dân Hải Phòng, một món quà mà cho các giáo xứ mà ngài đã để lại dấu ấn mục vụ và đặc biệt cho giáo xứ Hải Dương của chúng ta. Cách đặc biệt chúng ta hãy sốt sắng dâng thánh lễ, xin Chúa xót thương tha bớt những lỗi lầm thiếu sót của cha cố và cho linh hồn cha cố Giuse sớm về hưởng phúc thiên đàng”. Trước khi kết thúc lễ an táng, quý cha, quý tu sĩ, các vị đại diện gia đình linh tông và huyết tộc của cha cố Giuse lên dâng lời cảm ơn quý Đức Cha, Đức Ông Vinh Sơn, Cha Giám Tỉnh, Cha Đaminh Đại Diện Hải Phòng tại miền Nam, Quý Cha Quản hạt, Quý Cha, Quý Tu sĩ nam nữ và cộng đoàn Dân Chúa. Đồng thời cũng nói lời xin lỗi vì những thiếu sót vụng về trong lúc tổ chức tang lễ cha cố Giuse. Kính xin Quý Đức Cha, Quý Cha, Quý Tu sĩ và mọi người niệm tình tha thứ và xin tiếp tục cầu nguyện cho cha cố Giuse. Nghi thức tiễn biệt do Đức Ông Vinh Sơn cử hành và sau đó linh cữu cha cố Giuse được cộng đoàn cung kính đưa ra xe tang để về Đất Thánh Dòng Thánh Thể Khiết Tâm, Thủ Đức. Nơi đây, chúng con xin gởi lại thân xác cha cố Giuse cho lòng đất để chờ ngày phục sinh. Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ, xin cho linh hồn thầy cả Giuse sớm về hưởng nhan thánh Chúa. Đôi dòng tiểu sử Cha Cố Giuse Đặng Văn Quy, SSS - Sinh ngày: 25.01.1923, tại Hải Phòng. - Thụ phong linh mục ngày: 03.5.1953 - 1953 – 1954: Phó xứ miền Bắc. - 1954 – 1974: Phục vụ các xứ đạo: Bến Súc, Rạch Tiếng, Bến Gỗ, Trà Cổ, Quy Nhơn, Bình Dương, Thuận Hòa. - 1978: Khấn trong Dòng Thánh Thể. - 1975 – 2004: Bề trên cộng đoàn Thánh Thể Hải Dương, quản nhiệm xứ Phú Tảo, Phúc Lâm, (Hố Nai). - 2004 – 2014: Bề trên cộng đoàn Cựu Viên, quản nhiệm giáo xứ Cựu Viên (Hải Phòng). - 2011 – 2014: Hữu dưỡng tại Cộng Đoàn Thánh Thể Hải Dương. - Được Chúa gọi về ngày 25.07.2014 - Hưởng thọ 91 tuổi.
Thánh Lễ Truyền Chức Phó Tế     “Anh em nhớ rằng chức linh mục bao hàm chức phó tế trong đó, nhưng chức phó tế không bao hàm chức linh mục, thậm chí cả chức Giám mục cũng bao hàm chức phó tế trong đó. Ở đây, tôi muốn nói là Giám mục và Linh mục luôn luôn là người phục vụ. cho nên, anh em và cả tôi hãy nhớ điều đó.” (ĐC Phaolo Bùi Văn Đọc) Chiều thứ sáu, ngày 18.07.2014, Đức Tổng Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc đã đến Học viện Thánh Thể, chủ sự Thánh lễ truyền chức Phó tế cho 6 thầy Học viện Thánh Thể. Cha Bề Trên Giám tỉnh, cùng quý cha Ban Giám đốc học viện có mặt tại sân nhà thờ Mông Triệu để đón vị lãnh đạo cao nhất của Giáo hội địa phương. Bởi vị đường hẹp, Đức Tổng Giám mục phải quá bộ một đoạn đường ngắn để vào Học viện Thánh Thể. Ngài niềm nở vui tươi trước sự chào đón của quý cha Dòng Thánh Thể. Đúng 17g00, đoàn rước tiến bước vào cung thánh nhà nguyện trong bài ca nhập lễ do quý thầy học viện phụ trách, cùng quý sơ và thân nhân của các tiến chức về cùng hiệp dâng thánh lễ. Hướng cộng đoàn vào thánh lễ, Đức Cha Phaolô nói: Hôm nay, tôi đến đây, ngôi nhà nguyện bé nhỏ này để phong chức phó tế cho quý thầy đây, là những thành phần ưu tú của Dòng Thánh Thể. Và ngài kêu gọi cộng đoàn thánh lễ hôm nay đặc biệt cầu nguyện cho các tiến chức. Trong bài giảng, Đức Tổng Giám mục nhắc lại ý nghĩa của việc phong chức phó tế trong Giáo hội: khi nói đến Giáo hội thì phải nói đến mầu nhiệm tình yêu hiệp thông, mầu nhiệm tình yêu cứu rỗi và mầu nhiệm tình yêu phục vụ. Ba khía cạnh này của Giáo hội đan kết với nhau rất chặt chẽ. Nhưng hôm nay, tôi muốn nói với anh em về ý nghĩa chức phó tế của anh em sắp lãnh nhận qua ba bài đọc Kinh Thánh hôm nay. Trước hết, bài trích sách Dân số nói rất rõ là dòng họ Lêvi được tuyển chọn làm trợ tế cho các tư tế Aharon, cũng vậy hôm nay anh em sẽ trở thành những trợ tế cho các tư tế. Anh em nhớ mình chỉ là trợ tế chứ khong phải là tư tế, nhưng anh em có một nhiệm vụ rất quan trọng là phục vụ nhà tạm (hay là lều hội ngộ) nơi mà Thiên Chúa và dân Người gặp nhau và nay là nơi mà chính Đức Giêsu hiện diện sống động nơi Bánh Thánh. Công việc này rất quan trọng cho nên anh em phải được thánh hiến cho Thiên Chúa qua chức thánh phó tế; bài đọc sách Công vụ Tông đồ lại nhấn mạnh đến khía cạnh khác, đó là phục vụ bàn ăn hay nói rộng hơn là phục vụ công việc bác ái trong Giáo hội. Đức Thánh Cha Bênêđictô 16 nói rằng: “không thể bỏ công việc bác ái trong Giáo hội”. Và anh em là những người được tuyển chọn, có tiếng tốt, đầy đức tin và đầy Thánh Thần như sách Công vụ đề cập đến. Cho nên, hôm nay anh em sẽ được tràn đầy Thánh Thần; và một khía cạnh quan trọng nữa trong bài Tin Mừng hôm nay, đó là khi anh em phục vụ là anh em phản ánh một khuôn mặt rất đặc biệt của Đức Giêsu, là khuôn mặt của ngườitôi tớ phục vụ “tôi đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Cho nên, anh em sẽ phản ánh khuôn mặt rất đẹp của Đức Giêsu, mặc dù Người là Thiên Chúa nhưng đã làm người, mà không những là người mà còn là người tôi tớ phục vụ, đây là một những điều rất đẹp của Kitô Giáo (ai làm lớn nhất thì phải hạ mình làm kẻ thấp nhất để phục vụ anh em). Trước khi kết thúc bài giảng, Đức Tổng còn nhắc nhở rằng: “Anh em nhớ rằng chức linh mục bao hàm chức phó tế trong đó, nhưng chức phó tế không bao hàm chức linh mục, thậm chí cả chức Giám mục cũng bao hàm chức phó tế trong đó. Ở đây, tôi muốn nói là Giám mục và Linh mục luôn luôn là người phục vụ. cho nên, anh em và cả tôi hãy nhớ điều đó.” Sau bài giảng là nghi thức phong chức phó tế. Nghi thức phong chứ diễn ra hết sức trang nghiêm và sốt sắng. Đặc biệt trong phần trao sách phúc âm, Đức Tổng đọc rõ từng lời cho từng tân chức: “Con hãy nhận lấy Phúc âm Đức Kitô mà con đã trở thành người rao giảng, và con hãy biết là phải tin điều con đọc, dạy điều con tin và thi hành điều con dạy.” Đây cũng là lời nhắc nhở của vị cha chung của giáo phận cho con cái của mình trước khi thi hành tác vụ. Sau đó, ngài ban chúc bình an cho mội tân chức. Thánh lễ tiếp tục với phần phụng vụ Thánh Thể. Trước khi kết thúc thánh lễ, cha Bề trên Giám tỉnh có đôi lời tri ân Đức Tổng Giám mục. “Đức cha dù bận nhiều việc mục vụ nhưng vẫn đến và thăm học viện nhỏ bé của chúng con, chúng con xin chân thành tri ân. Xin Thiên Chúa ban cho Đức Tổng sức khỏe và nghị lực để hoàn thành trách nhiệm Thiên Chúa trao ban cho ngài.” Đồng thời, cha Bề Trên cũng cảm ơn quý cha đồng tế đã hiện diện cầu nguyện cho các tiến chức. Và cha cũng nhắc đến lòng quảng đại của quý ông bà cố đã hy sinh trao tặng cho Thiên Chúa, cách riêng cho hội dòng những người con ứu tú của gia đình để góp phần xây dựng Giáo hội Chúa. Thánh lễ kết thúc lúc 18g30 phút. Sau đó, 6 tân chức chụp chung với Đức Tổng tấm hình lưu niệm. BTT Học viện Thánh Thể Một số hình ảnh trong thánh lễ phong chức phó tế  
Vai Trò Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh   Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, cựu quốc vụ khanh Tòa Thánh, gần đây có dành cho Zenit một cuộc phỏng vấn trước khi ngài nói chuyện về đề tài Nền Ngoại Giao Của Tòa Thánh Trong Thế Giới Hoàn Cầu Hóa nhân dịp phát động cuốn sách cùng tên của ngài. Đức Hồng Y cho hay trong những năm gần đây, Tòa Thánh đưa ra nhiều cố gắng lớn lao và bền bỉ để ngăn chặn chiến tranh, cổ vũ hòa bình, phát triển kinh tế, và bảo vệ các nhân quyền cũng như tình huynh đệ giữa mọi dân tộc. Nếu nhìn trở lui một số cuộc tranh chấp gần đây, ta hẳn thấy Tòa Thánh đã tìm nhiều cách để ngăn chặn chúng và nếu chúng khởi sự, thì Tòa Thánh cố gắng hết sức để trợ giúp các nạn nhân và hàn gắn các thương tích của chiến tranh. Điều rõ ràng là trong năm qua, cả Tòa Thánh lẫn Đức Phanxicô đã đưa ra nhiều cố gắng cam go để cổ vũ hòa bình tại Syria và Đất Thánh. Đức Hồng Y cho rằng mục lục cuốn sách sắp phát động của ngài cho thấy rõ các ưu tiên của nền ngoại giao giáo hoàng. Các ưu tiên này ngài nhận rõ qua kinh nghiệm cũng như các cuộc hành trình riêng của ngài: vấn đề bảo vệ nhân quyền, tầm quan trọng căn bản của nhân phẩm, nhu cầu phải có sự bảo đảm của quốc tế đối với tự do tôn giáo, hiện đang bị đe dọa tại nhiều nơi, việc phát triển các dân tộc dựa trên tình liên đới. Ngài đặc biệt nhớ tới cuộc gặp gỡ với các vị tổng thống Á Căn Đình và Chilê, dịp kỷ niệm 25 năm hòa ước Beagle, cũng như cuộc gặp gỡ với các vị quốc trưởng và chính phủ nhân dịp hội nghị của Tổ Chức An Ninh và Hợp Tác Âu Châu họp tại Astna, Kazaskhtan. Về các chỉ trích đối với lối quản trị Giáo Triều trước đây của ngài, Đức Hồng Y Bertone cho rằng những lời chỉ trích này chỉ căn cứ vào những sự thật do họ cắt dán mà không đủ biện phân. Như vụ chỉ trích về căn hộ tại Vatican của ngài chẳng hạn. Các chỉ trích ấy sai về kích thước đến nỗi dù ngài đã đính chính, họ vẫn tiếp tục nhắc lai như trước, bất chấp thực tế có như thế nào. Nhân dịp này, Đức HY Bertone nhắc tới lời Đức GH Phanxicô đề tựa cho cuốn sách của ngài. Đức Thánh Cha viết rằng: thước đo những người phục vụ Giáo Hội không do các hàng tít lớn ở trang đầu các tờ báo quyết định mà do lòng tận tụy âm thầm và quảng đại phục vụ nhiệm thể Chúa Kitô và thiện ích con người. Khi đụng tới vấn đề quản trị, điều quan trọng cần ghi nhận là quốc vụ khanh không cai trị một cách độc lập và chuyên chế. Ngài thi hành các hướng dẫn và các ưu tiên của Thẩm Quyền Tối Cao của Giáo Hội và hết lòng trợ giúp Đức Thánh Cha trong sứ vụ của ngài. Trong việc làm của mình, quốc vụ khanh được sư trợ giúp của nhân viên thuộc nhiều nha sở khác nhau, như đã được qui định trong nhiều văn kiện giáo hoàng. Các hướng dẫn này, như Tông Hiến Pastor Bonus, chẳng hạn, cho thấy rõ quốc vụ khanh phải tôn trọng các lãnh vực trách nhiệm của các văn phòng, các thánh bộ, các tòa án, các hội đồng và các cơ quan khác.Vai trò quốc vụ khánh là tạo điều kiện thuận lợi cho các tương tác giữa các cơ quan này, mà không xâm phạm tới tư cách độc lập của họ. Được hỏi đặc biệt về việc đầu tư vào dự án Lux Vide, Đức HY Bertone trả lời rằng đây là một diễn trình nghiên cứu và biện phân khá dài, bắt đầu từ năm 2009 và chấm dứt vào tháng 12 năm 2013, khi ngài trình bày dự án trong một cuộc họp hỗn hợp của Ủy Ban Giám Sát Gồm Các Hồng Y và Hội Đồng Quản Trị Ngân Hàng Tòa Thánh và được cả hai cơ quan này đồng thanh ủng hộ, có biên bản ghi chép đàng hoàng. Dự án này nhằm hợp tác với Lux Vide để sản xuất các hư cấu và các phim ảnh dựa vào linh hứng Thánh Kinh và Kitô Giáo, nhằm phục vụ những ai có kinh nghiệm giáo dục cũng như các dự án phúc âm hóa của Giáo Hội. Việc nghiên cứu các chi tiết kỹ thuật thuộc hoạt động tài chánh thì không tùy thuộc Đức HY Bertone mà là các bộ phận quản trị của Ngân Hàng Tòa Thánh, là các bộ phận luôn hành động theo mục đích của họ, nhằm lợi ích của Giáo Hội hòan vũ. Vả lại, theo ngài, Lux Vide là một công ty có khả năng trong lãnh vực truyền thông bằng phim ảnh và truyền hình. Chính vị sáng lập ra Ngân Hàng Vatican là Đức Piô XII cũng từng tài trợ cho “Instituto Luce” để sản xuất ra cuốn phim "Pastor Angelicus" (Mục Tử Thiên Thần). Nhân dịp này, Đức HY Bertone còn cho hay liên hệ giữa ngài với Đức Đương Kim Giáo Hoàng rất tốt: cuối tháng 5 vừa qua, ngài được gặp riêng Đức Phanxicô. Hai vị nói tới cuốn phim “Pastor Angelicus” vừa nhắc ở trên. Còn Đức Phanxicô thì nói về thời còn con nít ở Buenos Aires. Liên hệ ấm cúng cũng vẫn còn giữa ngài và Đức Bênêđíctô. Đức GH hưu trí đã ân cần mời ngài dùng cơm trưa nhân dịp Đức HY mừng ngày thụ phong linh mục hôm 1 tháng 7 vừa qua. Hai vi nói về những quan tâm chung liên hệ tới công việc hồi hai vị còn phục vụ tại Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin và hồi Đức HY phục vụ tại phủ quốc vụ khanh. Đức HY Bertone cũng cho biết: đã là giám mục thì người giữ chức này không bao giờ rời bỏ các trách nhiệm mục vụ của mình cả, nên cam kết của ngài đối với Giáo Hội vẫn như trước, cả sau khi đã về hưu. Thành thử, hiện nay, ngài vẫn là thành viêm tham vấn của nhiều thánh bộ Tòa Thánh. Ngoài ra, ngài sẵn sàng giúp các giáo xứ cũng như các tổ chức cộng đoàn bằng cách cử hành thánh lễ hay tham gia các hội nghị.            (Vũ Văn An, VCN 18.07.2014)  
Đức Thánh Cha Phanxicô Mời Gọi: Hãy Biến Cuộc Sống Của Chúng Ta Thành Tấm Bánh Bẻ Ra Cho Mọi Người Pr. Lê Hoàng Nam, SJ VATICAN. Trưa Chúa Nhật 22.6, như thường lệ, hàng chục ngàn tín hữu hành hương đã quy tụ về Quảng Trường Thánh Phêrô, Vatican để nghe chia sẻ của Đức Thánh Cha, đọc kinh truyền tin và nhận phép lành từ ngài. Nhân ngày Chúa Nhật Kính Mình và Máu Thánh Chúa hôm nay, Đức Thánh Cha đã chia sẻ với mọi người về giá trị quý báu của Mình Máu Thánh Chúa, và ý nghĩa của việc bẻ bánh đời mình ra cho mọi người.    Khởi đầu bài chia sẻ, ngài nói: “Xin chào anh chị em, Vào Chúa Nhật hôm nay, Ý và nhiều nước khác mừng lễ Mình và Máu Thánh Đức Kitô, trong tiếng Latinh gọi là Corpus Domini hay Corpus Christi. Cộng đoàn Giáo Hội quy tụ lại quanh Thánh Thể để thờ phượng gia sản quý báu nhất mà Đức Giêsu đã để lại cho mình.    Tin Mừng Gioan đã trình bày diễn từ của Đức Giêsu về "bánh hằng sống" trong Hội đường Caphacnaum, trong đó, Ngài nói:" Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời và bánh ta ban chính là thịt ta để cho thế gian được sống" (Ga 6,51). Đức Giêsu đã nhấn mạnh rằng Ngài không đến trái đất này để trao ban điều gì khác, nhưng là trao ban chính Ngài, sự sống của Ngài, như của ăn bồi dưỡng cho những ai có lòng tin vào Ngài. Sự hiệp thông này của chúng ta với Chúa thúc bách chúng ta, những môn đệ của Ngài, hãy noi gương Ngài, biến sự hiện hữu của chúng ta, qua thái độ sống của chúng ta, thành tấm bánh bẻ ra cho người khác, như chính Thầy đã bẻ bánh là chính thịt mình vậy. Về phần chúng ta, chính cách hành xử quảng đại dành cho người thân cận sẽ chiếu tỏa thái độ bẻ đời mình ra cho người khác.” Ngài nói thêm rằng nhờ rước Mình và Máu Thánh Chúa Kitô mà đời sống của chúng ta được biến đổi. Ta sẽ có khả năng yêu một cách vô hạn như Thiên Chúa, Đấng không có giới hạn trong tình yêu. Ngài nói: “Mỗi khi chúng ta tham dự Thánh Lễ và được Mình Chúa Kitô nuôi dưỡng, sự hiện diện của Đức Giêsu và của Thánh Thần hoạt động trong chúng ta, khuôn đúc con tim chúng ta, thông truyền cho chúng ta những thái độ nội tâm, biến chuyển thành cung cách hành xử theo Tin Mừng. Trên hết, thái độ ngoan ngoãn với Lời Chúa, sau đó là tình huynh đệ giữa chúng ta, sự can đảm của chứng tá Kitô hữu, sự kỳ diệu của đức ái, khả năng trao ban hy vọng cho những ai đang mất đi niềm tin, khả năng đón tiếp những ai bị loại trừ. Theo đó, Thánh Thể làm cho lối sống Kitô hữu được trưởng thành hơn. Bác ái của Đức Kitô, nếu được đón nhận với con tim rộng mở, sẽ thay đổi chúng ta, biến đổi chúng ta, trao ban cho chúng ta khả năng yêu thương không theo mức đo lường của con người vốn luôn có hạn, nhưng theo thước đo của Thiên Chúa. Mà thước đo của Thiên Chúa thì đến mức nào? Không có giới hạn! Thước đo của Thiên Chúa là không có giới hạn. Tất cả! Tất cả! Tất cả! Không ai có thể đo lường được tình yêu của Thiên Chúa: vì tình yêu ấy là vô hạn! Chúng ta trở nên có khả năng yêu cả những người không yêu chúng ta: điều này không dễ tí nào, phải không? Yêu người không yêu chúng ta... Chẳng dễ tí nào! Bởi vì nếu chúng ta biết rằng một người không yêu chúng ta, chúng ta cũng sẽ chẳng yêu người ấy! Đúng không! Chúng ta phải yêu cả những ai không yêu chúng ta! Chúng ta hãy chống lại điều xấu bằng điều lành, bằng sự tha thứ, sẻ chia và đón nhận. Nhờ Đức Giêsu và Thánh Thần của Người, đời sống của chúng ta cũng phải trở nên "tấm bánh bẻ ra" cho anh chị em chúng ta. Sống như thế, chúng ta sẽ khám phá ra niềm vui đích thật! Niềm vui khi biến mình thành món quà để đổi lại món quà to lớn hơn mà chúng ta đã lãnh nhận trước, không phải bởi công trạng của chúng ta. Điều này thật tuyệt vời phải không: đời sống của chúng ta trở thành món quà! Noi gương Đức Giêsu. Tôi muốn nhắc nhớ hai điều này. Thứ nhất, giới hạn của tình yêu Thiên Chúa là yêu không giới hạn. Điều này có rõ không? Cuộc sống của chúng ta, với tình yêu của Giêsu, nhận được từ Thánh Thể, tự biến thành món quà. Giống như cuộc sống của Giêsu vậy. Đừng quên hai điều này: giới hạn tình yêu của Thiên Chúa và yêu không giới hạn. Bước theo Đức Giêsu, chúng ta - với Thánh Thể - biến cuộc sống của chúng ta thành một món quà.” Sau cùng, ngài mời gọi mọi người hãy hướng lòng về Mẹ Maria để xin Mẹ giúp mình biết yêu quý Đức Giêsu như Mẹ: “Đức Giêsu, tấm bánh sự sống đời đời đã từ trời hạ giới và đã làm người nhờ đức tin của Đức Maria Cực Thánh. Sau khi đã cưu mang Người trong mình với một tình yêu khôn xiết, Mẹ đã theo Người một cách trung tín đến tận thập giá và sự phục sinh. Chúng ta hãy cầu xin mẹ giúp chúng ta tái khám phá nét đẹp của Thánh Thể, và biến Thánh Thể trở thành trung tâm của đời sống chúng ta, đặc biệt nơi Thánh Lễ Chúa Nhật và Chầu Mình Thánh Chúa.” Sau buổi đọc kinh truyền tin, Đức Thánh Cha nhắc nhở các tín hữu nhớ đến Ngày Liên Hiệp Quốc Gia chống lại nạn bạo hành vào ngày 26.6 tới. Ngài mạnh mẽ lên án nạn bạo hành dưới mọi hình thức và ngài xin mọi người hãy đấu tranh chống lại nạn này, đồng thời cầu nguyện, giúp đỡ các nạn nhân và gia đình của họ. Ngài cũng gửi lời chào đến tất cả các khách hành hương và xin họ cầu nguyện cho mình.
Đức Thánh Cha Gặp Các Linh Mục Và Dâng Thánh Lễ Tại Cassano Lm. Trần Đức Anh OP CASSANO. ĐTC Phanxicô cổ võ các linh mục sống tình huynh đệ và ngài tái lên án những kẻ gian ác trong các tổ chức bất lương. Ngài đưa ra lập trường trên đây trong cuộc gặp gỡ các linh mục của giáo phận Cassano all'Jonio và trong bài giảng thánh lễ cho các tín hữu tại vùng này, hôm 21-6-2016. Giáo phận Cassano cách Roma 400 cây số và có 106 ngàn tín hữu Công Giáo, do Đức Cha Nunzio Galantino cai quản. Ngài cũng là Tổng thư ký HĐGM Italia. Vùng này thường bị nạn tổ chức bất lương N'drangheta, giống như mafia, hoành hành. Thậm chí gần đây một em bé 3 tuổi cũng bị bọn bất lương này rưới xăng đốt chết với cha mẹ em.    Huấn dụ cho các linh mục Trong bài huấn dụ ngắn tại buổi gặp gỡ các LM tại nhà thờ chính tòa Cassano lúc 12 giờ trưa, ĐTC nhắc nhở cho các vị về niềm vui làm linh mục, vẻ đẹp của tình huynh đệ, đồng thời khích lệ các vị làm việc với các gia đình và cho các gia đình. Ngài nói:    Trước tiên tôi muốn chia sẻ với anh em niềm vui được làm LM. Một điều luôn gây ngạc nhiên, đó là được Chúa Giêsu kêu gọi, kêu gọi theo Chúa, ở với Chúa, mang Chúa, Lời Chúa và ơn tha thứ của Chúa cho tha nhân.. Không có gì đẹp hơn đối với một người như thế, có đúng không anh em?. Khi các linh mục chúng ta ở trước Nhà Tạm Mình Thánh Chúa, và chúng ta dừng lại một lát nơi đó, trong thinh lặng, lúc ấy chúng ta cảm thấy cái nhìn của Chúa lại đặt nơi chúng ta, cái nhìn ấy đổi mới và tái linh hoạt chúng ta..    Quả thực, nhiều khi không dễ ở lại trước Chúa, không dễ dàng vì chúng ta bị bao nhiêu công việc, bao nhiêu người lôi kéo..; nhưng nhiều khi việc làm ấy không dễ vì chúng ta cảm thấy một sự khó chịu nào đó, cái nhìn của Chúa làm cho chúng ta có phần bất an, có khi đặt chúng ta trong một cơ khủng hoảng.. Nhưng điều có cũng có lợi cho chúng ta! Trong thinh lặng cầu nguyển, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy chúng ta là những người thợ tốt, hoặc chỉ là những công nhân, công chức; chúng ta là những máng mở rộng và quảng đại qua đó tình thương và ơn thánh của Chúa tuôn chảy dồi dào, hoặc chúng ta tự đặt mình ở trung tâm, và thay vì là máng chuyển, chúng ta trở thành những hàng rào không giúp gặp gỡ Chúa, với ánh sáng và sức mạnh của Tin Mừng”.    Điều thứ hai tôi muốn chia sẻ với anh em là vẻ đẹp của tình huynh đệ: là linh mục với nhau, không phải một mình theo Chúa, không riêng rẽ nhưng cùng nhau, tuy là trong những năng khiếu và nhân cách khác nhau; đúng ra chính điều ấy là cho linh mục đoàn được phong phú, với nhiều gốc gác, tuổi tác, tài năng khác nhau.. và tất cả những điều đó được sống trong tình hiệp thông, trong tình huynh đệ.    Cả điều này cũng không dễ dàng, không phải là điều đương nhiên xảy ra. Trước tiên vì cả các linh mục chúng ta cũng bị chìm trong nền văn hóa chủ quan ngày nay, thứ văn hóa tuyên dương cái tôi, đến độ tôn thờ nó như thần tượng, và do một thái độ duy cá nhân chủ nghĩa trong mục vụ, đáng tiếc là cũng lan tràn trong các giáo phận chúng ta. Vì thế chúng ta phải phản ứng lại nó bằng một sự chọn lựa tình huynh đệ. Tôi cố ý nói về sự ”chọn lựa”. Không thể chỉ là một điều do tình cờ tạo nên, theo hoàn cảnh thuận tiện. Không phải thế, đó là một sự chọn lựa tương ưng với thực tại của chúng ta, với hồng ân chúng ta đã lãnh nhận, và cần luôn luôn đón nhận và vun trồng: đó là sự hiệp thông trong Chúa Kitô, trong hàng linh mục, quanh Đức GM. Tình hiệp thông này đòi phải được sống bằng cách tìm kiếm những hình thức cụ thể thích hợp với thời đại và thực tại của địa phương, nhưng luôn trong viễn tượng tông đồ, theo cách thức truyền giáo, huynh đệ và đời sống đơn sơ. Khi Chúa Giêsu nói: ”Cứ dấu này mọi người nhận biết các con là môn đệ thầy: nếu các con yêu thương nhau” (Ga 13,35), Chúa nói điều nói điều đó cho mọi người, nhưng trước tiên là cho 12 tông đồ, cho những người mà Ngài kêu gọi theo sát Ngài.    Niềm vui được làm linh mục và vẻ đẹp của tình huynh đệ. Hai điều này tôi nghĩ là quan trọng nhất khi nghĩ đến anh em. Một điều cuối tôi chỉ nhắc sơ, tôi khuyến khích anh em trong công việc với các gia đình và cho các gia đình. Đó là công việc mà Chúa yêu cầu chúng ta làm một cách đặc biệt trong thời kỳ này, là thời kỳ khó khăn, đối với gia đình như một định chế cũng như các gia đình, vì khủng hoảng. Nhưng chính trong thời kỳ khó khăn này mà Thiên Chúa làm cho ta cảm thấy sự gần gũi, ơn thánh, sức mạnh ngôn sứ của Lời Chúa. Và tất cả chúng ta được kêu gọi trở thành chứng nhân, làm người trung gian về sự gần gũi của Thiên Chúa đối với các gia đình và về sức mạnh ngôn sứ của Lời Chúa cho các gia đình”.    Thánh lễ    Hoạt động cuối cùng của ĐTC trong cuộc viếng thăm là thánh lễ ngài cử hành lúc 4 giờ chiều ngày 21-6-2014 tại cánh đồng Sibari trước sự tham dự của 250 ngàn tín hữu. Đồng tế với ngài có các GM của 12 giáo phận thuộc miền Calabria và 207 linh mục.    Trong bài giảng thánh lễ, ĐTC nhắc đến ý nghĩa lễ kính Mình Thánh Chúa, là Bánh Hằng Sống từ trời xuống (Ga 6,51), lương thực thỏa mãn lòng khao hát của chúng ta đối với sự sống đời đời, là sức mạnh cho hành trình của chúng ta. Ngài nói:    ”Lễ hôm nay là lễ qua đó Giáo Hội chúc tụng Chúa vì hồng ân Thánh Thể. Trong khi Thứ Năm Tuần Thánh chúng ta tưởng niệm việc Chúa lập phép Thánh Thể trong bữa tiệc ly, thì hôm nay trổi vượt lòng cảm tạ và thờ lạy Chúa. Thực vậy, theo truyền thống trong ngày này có cuộc rước kiệu Mình Thánh Chúa.    ĐTC khai triển hai khía cạnh của ngày lễ này, đó là ”Thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể và tiến bước với Chúa”. Ngài nói: ”Đây là hai khía cạnh không thể tách rời nhau trong ngày lễ hôm nay, hai khía cạnh ghi dấu vết trong toàn thể đời sống của dân Kitô giáo: một dân tộc thờ lạy Chúa và một dân tộc tiến bước, không dừng lại, nhưng bước đi.    - Trước tiên chúng ta là một dân tộc thờ lạy Thiên Chúa. Chúng ta thờ lạy Thiên Chúa là tình thương, trong Chúa Giêsu Người ban cho chúng ta chính mình, hiến thân trên thập giá để đền tội cho chúng ta và do quyền năng của tình thương ấy, Chúa sống lại từ cõi chết và đang sống trong Giáo Hội. Chúng ta không thờ lạy Thiên Chúa nào khác ngoài Ngài!    Tố giác tổ chức bất lương    Khi người ta thay thế việc thờ lạy Chúa bằng việc thờ lạy tiền bạc, thì người ta mở đường cho tội lỗi, cho tư lợi và cho lạm dụng; khi người ta không thờ lại Thiên Chúa là Chúa, thì họ trở thành người tôn thờ sự ác, như những kẻ sống bằng những điều gian ác và bạo lực. Phần đất của anh chị em đẹp đẽ dường nào, nhưng đang gặp phải những dấu hiệu và hậu quả của tội lỗi ấy. Tổ chức tội phạm N'drangheta là thờ lạy sự ác và coi rẻ ích chung. Cần phải bài trừ sự ác này, xua đuổi nó đi! Cần phải phủ nhận nó! Giáo Hội mà tôi biết là đang dấn thân trong việc giáo dục lương tâm, phải luôn luôn xả thân hơn nữa để sự thiện có thể trổi vượt. Các bạn trẻ của chúng ta yêu cầu điều ấy. Những người trẻ của chúng ta đang cần hy vọng, yêu cầu chúng ta điều ấy. Để có thể đáp ứng đòi hỏi ấy, đức tin có thể giúp đỡ chúng ta. Những người trong cuộc sống đi theo con đường sự ác như thế, như những tên mafia, họ không ở trong tình hiệp thông với Thiên Chúa: họ bị tuyệt thông! Ngày hôm nay chúng ta tuyên xưng điều ấy, mắt hướng nhìn về Mình Thánh Chúa, Bí Tích Bàn Thánh. Và do niềm tin ấy, chúng ta từ bỏ Satan với tất cả những quyến rũ của nó; chúng ta từ bỏ những thần tượng tiền bạc, háo danh, kiêu ngạo và quyền lực. Các Kitô hữu chúng ta không muốn thờ lạy điều gì và không thờ lạy ai trên trần thế này ngoài Chúa Giêsu Kitô, Đấng hiện diện trong Thánh Thể. Có lẽ chúng ta không luôn luôn ý thức tường tận điều này có ý nghĩa gì, với những hệ luận của việc chúng ta tuyên xưng niềm tin ấy. Niềm tin của chúng ta nơi sự hiện diện thực của Giêsu Giêsu, Thiên Chúa thật và là Người thật trong bánh rượu đã được thánh hiến, là chân thực nếu chúng ta quyết tâm tiến bước theo Chúa và với Chúa. Thờ lạy và tiến bước: một dân tộc thờ lạy là một dân tộc tiến bước! Tiến bước với Chúa và theo Chúa, tìm cách thực hành giới răn của Chúa, giới răn mà Ngài đã ban cho các môn đệ trong bữa tiệc ly: ”Như Thầy đã yêu thương các con, các con cũng phải yêu thương nhau” (Ga 13,34). Dân thờ lạy Thiên Chúa trong Thánh Thể là dân tiến bước trong tình bác ái. Thờ lạy Chúa trong Thánh Thể, tiến bước với Chúa trong tình bác ái huynh đệ. ĐTC nói tiếp: Ngày hôm nay, trong tư cách là GM Roma, tôi đến đây để củng cố anh chị em không những trong đức tin nhưng cả trong đức bác ái, để tháp tùng và khích lệ anh chị em trong hành trì với Chúa Giêsu Tình Thương. Tôi muốn bày tỏ sự hỗ trợ của tôi với Đức Giám Mục, các LM và phó tế của giáo phận này, cũng như giáo phận Công Giáo đông phương Lungro, vốn có truyền thống Hy lập Bizantine phong phú. Nhưng tôi cũng nới rộng sự khích lệ nâng đỡ ấy cho tất cả các vị Mục Tử và tín hữu của Giáo Hội ở miền Calabria, can dảm dấn thân trong việc loan báo Tin Mừng và cổ võ lối sống cũng như những sáng kiến đặt những nhu cầu của người nghèo và những người rốt cùng ở trung tâm. Tôi cũng khích lệ chính quyền dân sự đang nỗ lực dấn thân chính trị và hành chính để phục vụ công ích. Tôi khuyến khích tất cả hãy biểu lộ tình liên đới cụ thể với các anh chị em, nhất là những người đang cần nhiều hơn công lý, hy vọng và dịu dàng. Cám ơn Chúa có bao nhiêu dấu chỉ hy vọng trong các gia đình, giáo xứ, hội đoàn và phon gtrào Giáo Hội. Chúa Giêsu không ngừng khơi dậy những cử chỉ bác ái nơi đoàn dân lữ hành của Ngài! Một dấu chỉ cụ thể nói lên niềm hy vọng ấy là dự án Policoro, dành cho những người trẻ muốn dấn thân và kiến tạo những cơ hội làm việc cho bản thân và tha nhân. Hỡi các bạn trẻ quí mến, các bạn đừng để cho người ta cướp mất niềm hy vọng! Khi thờ lạy Chúa trong tâm hồn anh chị em và liên kết với Chúa anh chị em sẽ biết chống lại sự ác, chống lại bất công, bạo lực bằng sức mạnh của chân, thiện, mỹ. Anh chị em thân mến, Thánh Thể tụ họp chúng ta với nhau, Mình Chúa làm cho chúng ta trở nên một, một gia đình duy nhất, Dân Chúa quây quần quanh Chúa Giêsu, Bánh sự sống. Điều mà tôi đã nói với những người trẻ, tôi cũng nói với tất cả mọi người, đó là nếu anh chị em thờ lạy Chúa Kitô và bước theo Chúa và với Chúa, thì giáo phận, các giáo xứ của anh chị em sẽ tăng trưởng trong đức tin và bác ái, trong niềm vui loan báo Tin Mừng. Anh chị em sẽ là một giáo phận trong đó các cha mẹ,các LM tu sĩ, giáo lý viên, trẻ em, người già, người trẻ tiến bước cạnh nhau, nâng đỡ, tương trợ, yêu thương nhau như anh chị em, nhất là trong những lúc khó khăn. Sau thánh lễ vào khoảng 6 giờ chiều ĐTC đã đáp trực thăng trở về Vatican bình an.
Đức Thánh Cha Chủ Sự Lễ Kính Mình Máu Thánh Chúa Lm. Trần Đức Anh OP ROMA. Lúc 7 giờ chiều thứ năm 19-6-2014, ĐTC Phanxicô đã chủ sự Thánh Lễ kính Mình Máu Thánh Chúa tại thềm Đền thờ thánh Gioan Laterano. Tham dự Thánh Lễ, có đông đảo các HY và GM, cùng với các vị Giám Chức, LM và hàng chục ngàn tín hữu. Trong bài giảng, ĐTC nhắc lại lời ngôn sứ Môisê trách dân Do thái khi được vào Đất Hứa đã quên Chúa là Đấng đã dùng manna để nuôi họ trong sa mạc: ”Chúa là Thiên Chúa của ngươi.. đã nuôi ngươi bằng manna, mà người không nhận biết” (Dnl 8,2). ”Sau khi định cư, dân tuyển đạt được một sự tự lập, được sung túc phần nào, và họ gặp nguy cơ quên những biến cố đau buồn quá khá mà họ đã vượt thắng được nhờ sự can thiệp của Thiên Chúa và nhờ lòng từ nhân vô biên của Chúa. Bấy giờ Kinh Thánh nhắn nhủ họ hãy nhớ tất cả hành trình đã trải qua trong sa mạc, trong thời thiếu thốn và cơ cực. Lời mời gọi của Môisê là hãy trở lại với những gì thiết yếu, với kinh nghiệm hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa, khi sự sinh tồn được ủy thác cho Chúa, để con người hiểu rằng ”mình không sống bởi cơm bánh mà thôi.. nhưng còn nhờ tất cả những gì bởi miệng Thiên Chúa mà ra” (Dnl 8,3). ĐTC giải thích rằng con người không phải chỉ đói thể lý, nhưng còn có cái đói khác không thể thỏa mãn bằng lương thực, đó là cái đói sự sống, đói tình thương, đói sự vĩnh cửu… Chúa Giêsu ban cho chúng ta lương thực ấy, đúng hơn, chính Ngài là bánh hằng sống ban sự sống cho thế giới (Xc Ga 6,51). Mình Chúa là lương thực chân thực dưới hình bánh, và Máu ngài là đồ uống thực sự dưới hình rượu. ĐTC cũng nhấn mạnh rằng ”Trong Bí tích Thánh Thể, Chúa thông truyền cho chúng ta tình thương, một tình thương lớn lao đến độ Chúa nuôi chúng ta bằng chính mình Chúa, một tình yêu nhưng không, luôn được dành cho những người đói khát và cần bồi dưỡng sức lực. Sống kinh nghiệm đức tin có nghĩa là để cho Chúa nuôi dưỡng và kiến tạo cuộc sống của mình không phải trên những của cải vật chất, nhưng trên thực tại không hư nát là những hồng ân của Thiên Chúa, là Lời Chúa và chính Thân Mình Chúa”. ĐTC không quên cảnh giác các tín hữu đừng chạy theo những thứ lương thực khác. Ngài nói: ”Một số người nuôi dưỡng mình bằng tiền bạc, người khác bằng thành công và sự háo danh, kẻ khác nữa bằng quyền lực và kiêu ngạo. Nhưng lương thực nuôi sống chúng ta thực sự chỉ có thể là lương thực Chúa ban!” Trong phần kết luận, ĐTC mời gọi mỗi người, ngày hôm nay hãy tự hỏi: Tôi ăn ở  đâu? Tôi muốn nuôi sống mình ở bàn ăn nào? Nơi bàn ăn của Chúa? Hay là tôi ước mơ ăn những lương thực ngon lành, nhưng trong sự nô lệ? Đâu là ký ức của tôi? Phải chăng tôi nhớ đến Chúa đã cứu thoát tôi, hay nhớ đến củ hành củ tỏi của thời nô lệ? Tôi làm cho linh hồn tôi được no đầy nhờ ký ức nào?” Sau Thánh Lễ, ĐHY Giám quản Roma, Agostino Vallini, đã thay ĐTC chủ sự cuộc rước kiệu Mình Thánh Chúa cùng với hàng ngàn tín hữu tiến bước trên quảng đường dài hơn 1 cây số, tới Đền thờ Đức Bà Cả. Còn ngài thì đi xe thẳng tới Đền thờ và đợi đoàn rước đến, rồi ngài chủ sự nghi thức ban phép lành Mình Thánh Chúa cho mọi người. Cha Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh giải thích rằng, ĐTC không đi bộ rước kiệu trên quãng đường dài như vậy giữa hai Đại Vương cung thánh đường, vì ngài sắp thực hiện cuộc viếng thăm tại giáo phận Cassano miền Calabria vào Thứ Bảy ngày mai, 21-6, và đồng thời, ngài cũng muốn sự chú ý của các tín hữu tập trung vào Mình Thánh Chúa trong cuộc rước, hợp với tinh thần của buổi lễ. (SD 19-6-2014)
Giáo Hội Là Dân Chúc Tụng Và Là Dấu Chỉ Tình Yêu Thương Của Thiên Chúa Đối Với Thế Giới Giáo Hội là dân chúc tụng và là dấu chỉ tình yêu thương của Thiên Chúa đối với thế giới. Giáo Hội do Chúa Giêsu thành lập, nhưng là một dân tộc có lịch sử dài được chuẩn bị từ rất lâu trước Chúa Kitô, một dân tộc được tình yêu của Thiên Chúa chúc phúc để đem phúc lành ấy đến cho tất cả mọi dân tộc trên thế giới này. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương năm châu trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 18-6-2014 tại quảng trường thánh Phêrô. Sau khi chào tín hữu Đức Thánh Cha khen họ giỏi, vì với trời hay thay đổi bất thình lình trong những ngày này không ai biết sẽ có mưa hay không, nhưng ngài hy vọng Chúa thương để có thể kết thúc buổi tiếp kién mà không bị ướt. Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha bất đầu loạt bai giáo lý mới về Giáo Hội. Ngài nói: nói về Giáo Hội cũng giống như một người con nói về mẹ mình và về gia đình mình. Và ngài định nghĩa Giáo Hội như sau: Thật thế, Giáo Hội không phải là một cơ cấu có mục đích là chính mình hay một hiệp hội tư, một tổ chức phi chính quyền, lại càng không phải là hướng về hàng giáo sĩ hay về Vaticăng... Giáo Hội là chúng ta tất cả. Bạn nói về ai?” ”Không, về các linh mục..”. A, nhưng mà các linh mục là phần của Giáo Hội, nhưng Giáo Hội là tất cả chúng ta chứ. Đừng thu hẹp Giáo Hôi lại nơi các linh mục, các giám mục, Vaticăng. Tất cả những điều này là các phần của Giáo Hội, nhưng Giáo Hội là tất cả chúng ta. tất cả là gia đình, là của người mẹ. Và Giáo Hội là một thực thể rộng rãi hơn nhiều, rộng mở cho toàn nhân loại và không nảy sinh từ một phòng thí nghiệm, không nảy sinh một cách bất thình lình, từ số không. Giáo Hội được xây dựng trên Chúa Giêsu, nhưng là một dân tộc có một lịch sử dài sau lưng và một sự chuẩn bị đã bắt đầu từ lâu trước Chúa Kitô. Lịch sử hay ”tiền sử” đó của Giáo Hội được tìm thấy trong Thánh Kinh Cựu Ước. Theo Sách Sáng Thế mà chúng ta đã nghe, Thiên Chúa đã lựa chọn Abraham là cha của chúng ta trong lòng tin, và đã xin ông ra đi, bỏ quê hương xứ sở để đi tới một miền đất khác, mà Người sẽ chỉ cho (x. St 12,1-9). Và trong ơn gọi này Thiên Chúa không chỉ gọi Abraham như là cá nhân mà thôi, mà cũng lôi cuốn ngay từ đầu gia đình, bà con và tất cả những người phục vụ nhà ông nữa. Rồi một khi đã lên đường - Phải, và Giáo Hội bắt đầu bước đi như thế - Thiên Chúa sẽ còn nới rộng chân trời và sẽ đổ tràn đầy phúc lành của Người trên Abraham, bằng cách hứa cho ông một dòng dõi đông đúc như sao trên trời và như cát dưới biển. Dữ kiện quan trọng đầu tiên bắt đầu từ Abraham Thiên Chúa làm thành một dân để đem phúc lành của Người tới tất cả mọi gia đình của trái đất. Và Đức Giêsu sinh ra trong lòng dân tọc ấy. Chính Thiên Chúa làm nên dân tộc này, lịch sử này, Giáo Hội tiến bước và Đức Giêsu sinh ra trong dân tộc đó. Yếu tồ thứ hai đó là không phải Abraham quy tụ một dân tộc chung quanh mình, mà là chính Thiên Chúa khai sinh ra dân tộc ấy. Bình thường con người hướng về thần linh, bằng cách tìm lấp đầy khoảng cách, bằng cách khẩn cầu sự yểm trợ và che chở. Người ta khẩn cầu các thần linh... Nhưng trong trường hợp này, trái lại người ta chứng kiến điều chưa từng thấy. Và Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau. Chính Thiên Chúa đưa ra sáng kiến. Chúng ta hãy nghe nhé! Chính Thiên Chúa gõ cửa nhà Abraham vá nói với ông: Hãy ra đi, hãy rời bỏ đất đai, hãy bắt đầu bước đi và Ta sẽ khiến cho ngươi trở thành một dân tộc lớn. Đó là khởi đầu của Giáo Hội và trong dân tộc này Chúa Giêsu sinh ra. Nhưng Thiên Chúa đưa ra sáng kiến và hướng lời Ngài tới con người bằng cách tạo ra một mối dây, một tương quan mới với ông. ”Nhưng thưa cha, làm sao? Thiên Chúa nói với chúng ta ư? ”Phải”. ”Và chúng ta có thể dàm thoại với Thiên Chúa à?” Phải, và điều này gọi là lời cầu nguyện, nhưng chính Thiên Chúa ban đầu đã làm điều đó. Như vậy Thiên Chúa làm thành một dân với tất cả những ai bước đi và tín thác nơi Ngài. Đây là điều kiện duy nhất: tin tưởng nơi Thiên Chúa. Nếu bạn tin tưởng nơi Thiên Chúa, lắng nghe Ngài và bước đi đó là làm thành Giáo Hội. Tình yêu của Thiên Chúa đi trước tất cả. Thiên Chúa luôn luôn là đầu tiên, Ngài đến trước chúng ta, Ngài đi trước chúng ta. Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: Ngôn sứ Isaia hay Giêrêmia, tôi không nhớ rõ, một trong hai vị đã nói rằng Thiên Chúa như hoa hạnh đào, bởi vì đó là cây đầu tiên nở hoa trong mùa xuân. Để nói rằng Thiên Chúa luôn luôn nở hoa trước chúng ta, lôi chúng ta tới, Ngài chờ đợi chúng ta, Ngài mời gọi chúng ta, Ngài làm cho chúng ta bước đi. Ngài luôn luôn đi trước chúng ta. Và điều này gọi là tình yêu bởi vì Thiên Chúa luôn luôn chở đợi chúng ta. ”Nhưng mà thưa cha, con không tin điều này, bởi vì cuộc đời con đã rất là xấu xa, làm sao con có thể nghĩ rằng Thiên Chúa chờ đơi con được?” ”Thiên Chơáu chờ đơi bạn. Và nếu bạn đã là một người tội lỗi lớn, thì Ngài lại càng chờ đợi bạn hơn với biết bao tình yêu, bởi vì Ngài là nhất. Đó là vẻ đẹp của Giáo Hội, đem chúng ta tới với Thiên Chúa, là Đấng chờ đợi chúng ta! Ngài đi trước Abraham. Ngài cũng đi trước cả Ađam nữa! Tổ phụ Abraham và người nhà ông lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa và lên đường, mặc dù họ không biết rõ Thiên Chúa đó là ai và Ngài muốn dẫn họ đi đâu. Đúng thế bởi vì Abraham lên đường và không có sách thần học để nghiên cứu xem vị Thiên Chúa đã nói với ông là ai. Ông tín thác, ông tín thác nơi tình yêu. Thiên Chúa làm cho ông cảm thấy tình yêu và ông tín thác nơi Ngài. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là các người đó luôn luôn xác tín vá trung thành. Trái lại, ngay từ đầu đã có các kháng cự, khép kín trong chính mình, trên các lợi lộc riêng, và cám dỗ mặc cả với Thiên Chúa và giải quyết các sự việc theo ý riêng. Đó là các phản bội và các tội lỗi ghi dấu con đường của dân dọc dài toàn lich sử cứu độ, là lịch sử sự tín trung cảu Thiên chúa và sự bất trung của dân. Tuy nhiên, Thiên Chúa không mệt mỏi. Thiên Chúa kiên nhẫn, rất kiên nhẫn và trong thời gian Ngài tiếp tục giáo dục và đào tạo dân Ngài, như một người cha giáo dục và đào tạo con mình. Thiên Chúa bước đi với chúng ta. Ngôn sứ Hosêa nói: ”Ta đã bước đi với con và dậy con bước đi như một người cha dậy cho con mình”. Thật là hình ảnh dẹp về Thiên Chúa! Ngài làm với chúng ta như thế. Ngài dậy chúng ta bước đi. Đó cũng là thái độ Ngài có đối với Giáo Hội. Thật vậy cả chúng ta nữa, tuy có ý hướng theo Chúa Giêsu, nhưng hằng ngày chúng ta sống kinh nghiệm sự ích kỷ và cứng lòng. Nhưng khi chúng ta nhận mình là những kẻ tội lỗi, thì Thiên Chua đổ tràn đầy lòng thương xót và tình yêu của Ngài trên chúng ta. Ngài tha thứ cho chúng ta, ngài luôn tha thứ cho chúng ta. Chính điều đó làm cho chúng ta lớn lên như dân của Thiên Chúa, như Giáo Hội: không phải vì chúng ta giỏi, không phải do công lao của chúng ta, chúng ta ít ỏi chẳng là gì cả. Không phải cái đó mà là kinh nghiệm thường ngày cho chúng ta biết Chúa thương chúng ta và lo lắng cho chúng ta. Chính điều đó khiến cho chúng ta cảm thấy chúng ta là của Ngài, ở trong tay Ngài, và làm cho chúng ta lớn lên trong sự hiệp thông với Ngài và giữa chúng ta với nhau. Là Giáo Hội có nghĩa là cảm thấy mình ở trong tay Thiên Chúa, là Cha và yêu thương chúng ta, vuốt ve chúng ta, chờ đợi chúng ta, làm cho chúng ta cảm thấy sự dịu hiền của Ngài. Và đây là điều rất đẹp! Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: Anh chị em thân mến đó là chương trình của Thiên Chúa. Khi Ngài gọi Abraham, Thiên Chúa đã nghĩ tới điều này: làm thành một dân tộc được phúc phúc bởi tình yêu của Ngài để dân tộc đó đem phước lành của Ngài đến với tất cả mọi dân tộc của trái đất. Chương trình ấy không thay đổi nó luôn luôn đang được thực hiên. Nơi Chúa Kitô nó đã có sự thành toàn và cả ngày nay nữa Thiên Chúa vẫn tiếp tục thực hiện nó trong Giáo Hôi. Chúng ta hãy xin ơn trung thành với việc theo Chúa Giêsu và lắng nghe Lời Ngài, sẵn sàng ra đi mỗi ngày, như tổ phụ Abraham, hướng tới miền đất của Thiên Chúa và của con người, là quê hương thật của chúng ta, và như thế trở thành phước lành, dấu chỉ tình yệu thương của Thiên chúa đối với tất cả các con cái Ngài. Tôi thích nghĩ tới một từ đồng nghĩa, một tên gọi khác má kitô hữu chúng ta có thể có, đó là những người nam nữ, là dân chúc tụng. Với cuộc sống của mình kitô hữu phải luôn luôn chúc tụng Thiên Chúa và chúc tụng cả chúng ta nữa. Kitô hữu chúng ta là dân chúc lành, biết chúc lành. Và đó là mổt ơn gọi đẹp! Đức Thánh Cha đã chào các đoàn hành hương các nước bắc Mỹ và Tây Âu cũng như các nhòm tín hữu Nigeria, Zimbabwe, Kuweit, Ấn Độ, Nigeria, Australia, Mêhicô, Puerto Rico, Argentina và Brasil. Ngài chúc họ có những ngày hành hương tươi vui bổ ích. Đức Thánh Cha nhắc cho mọi người biết ngày thứ năm 19-6 lá lễ kính Mình Máu Thánh Chúa. Ngài cầu mong Thánh Thể dưỡng nuôi đức tin của người trẻ. Ngài khích lệ người đau yếu đừng mỏi mệt thờ lậy Chúa trong thử thách, và nhắn nhủ các cặp vợ chồng mới cưới học yêu thương, noi gương Chúa Giêsu hiến mình vì yêu thương và để cứu rỗi chúng ta. Sau cùng ngài cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.           (Linh Tiến Khải, RadioVaticana 18.06.2014)  
Chương Trình Viếng Thăm Của Đức Thánh Cha Tại Hàn Quốc VATICAN. Hôm 18-6-2014, Phòng báo chí Tòa Thánh đã công bố chương trình viếng thăm của ĐTC Phanxicô tại Hàn quốc, từ ngày 13 đến 18-8 tới đây, nhân dịp Đại hội Giới trẻ Công Giáo Á châu. - ĐTC sẽ rời Roma lúc 4 giờ chiều ngày thứtư, 13-8 và bay tới Căn cứ không quân ở thủ đô Hán Thành lúc 10 giờ rưỡi sáng ngày hôm sau, 14-8. Ngài sẽ cử hành thánh lễ riêng tại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh vào lúc 12 giờ trưa. Sau đó lúc gần 4 giờ chiều cùng ngày sẽ có nghi thức đón tiếp chính thức tại Tòa Nhà Xanh là dinh tổng thống Hàn Quốc, rồi gặp gỡ chính quyền. Tiếp đến, vào lúc 5 giờ rưỡi chiều, ngài sẽ gặp các GM Hàn quốc tại Trụ sở của HĐGM. - Sáng hôm sau, thứ sáu 15-8, ĐTC sẽ đáp trực thăng đến thành phố Đại Điền (Daejeon) và chủ sự thánh lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên trời tại Sân bóng đá thế giới tại đây vào lúc 10 giờ rưỡi. Sau lễ, ngài sẽ dùng bữa trưa với đại diện các bạn trẻ Công Giáo Á châu tại Đại chủng viện giáo phận Đại Điền. Ban chiều, ĐTC sẽ đáp trực thăng đến Đền Thánh Solmoe để gặp gỡ các bạn trẻ Á châu vào lúc 5 giờ rưỡi chiều rồi trở về thủ đô Hán Thành. - Sáng thứ bẩy, 16-8, ĐTC sẽ kính viếng Đền các Thánh Tử Đạo Hàn quốc Seo So Mon, rồi trở về Quảng trường Khải Hoàn Môn ở thủ đô Hán Thành để chủ sự thánh lễ phong chân phước cho 124 vị tử đạo đứng đầu là vị Tôi Tớ Chúa Phaolô Duẫn Trì Trung (Paul Yun Ji-Chung). Ban chiều cùng ngày 16-8, ĐTC sẽ đáp trực thăng đến Kkottongnae để viếng thăm Nhà Hy Vọng, lúc 4 giờ chiều. Đây là một trung tâm phục hồi những người khuyết tật. Sau đó lúc 5 giờ 15 ngài gặp gỡ các cộng đồng dòng tu tại Hàn Quốc tại Trung Tâm Huấn nghệ ”Trường Tình Thương”, gặp các thủ lãnh tông đồ giáo dân ở Trung Tâm Linh Đạo, cũng tại thành phố Kkottongnae. - Sáng chúa nhật 17-8, ĐTC sẽ đáp trực thăng tới Đền thánh Haeni, gặp gỡ các GM Á châu tại đây lúc 11 giờ, và dùng bữa trưa với các vị. Ban chiều, lúc 4 giờ rưỡi, ngài sẽ chủ sự thánh lễ bế mạc Đại hội kỳ 6 của giới trẻ Công Giáo Á châu tại Lâu Đài Haeni. - Sáng thứ hai, 18-8, vào lúc 9 giờ, ĐTC sẽ gặp gỡ các vị lãnh đạo tôn giáo tại Tòa GM cũ của Tổng giáo phận Hán Thành trước khi cử hành thánh lễ lúc gần 10 giờ tại Nhà thờ Chính tòa Minh Đổng ở địa phương để cầu nguyện cho hòa bình và hòa giải. Sau thánh lễ, ĐTC sẽ đáp trực thắng tới căn cứ quân sự Hán Thánh, và sau nghi thức tiễn biệt, ngài đáp máy bay lúc 1 giờ trưa để bay trở lại Roma, dự kiến sẽ về tới phi trường Ciampino vào lúc gần 6 giờ chiều cùng ngày 18-8. (SD 18-6-2014)             (G. Trần Đức Anh OP, RadioVaticana 18.06.2014)  
SATAN BỊ ĐÁNH BẠI, THÁNH THỂ ĐƯỢC TÔN VINH Vũ Văn An   Phil Lawler, chủ bút của Catholic World News, cho hay đêm thứ Hai qua, 12 tháng 5, đã trở thành đêm chiến thắng lớn cho đức tin Công Giáo tại TGP Boston. Thay vì Thánh Thể bị phạm thánh, biến cố công cộng đáng lưu ý nhất tại Cambridge là cuộc rước kiệu Thánh Thể dài mấy dẫy phố.Tại Havard, Nhà Thờ Thánh Phaolô chật ních người, nhiều người phải đứng bên ngoài, để dự giờ thờ lạy kết thúc với Phép Lành Thánh Thể. Buổi thánh lễ đen dự trù tổ chức tại khuôn viên ĐH Harvard đã không diễn ra tại đó. Dù chủ tịch Harvard là Drew Faust từ chối không can thiệp, nhóm sinh viên bảo trợ cho biến cố này (và là những người chưa bao giờ tự lộ diện) đã rút lui vào giờ thứ 11. Sau khi phát hành một loạt các tin nhắn mâu thuẫn nhau, các hội viên của Đền Thờ Sa Tan, là nhóm dự tính tổ chức biến cố đáng tởm này, tuyên bố rằng thánh lễ đen sẽ diễn ra trễ hơn tại một căn phòng trên lầu của một nhà hàng Tầu không rõ căn tính. Liệu thánh lễ đen có thực sự diễn ra hay không? Người ta không thấy bằng chứng nào cả mà chỉ thấy lời lẽ của những người cho rằng mình đang phụng sự Cha Sự Gian Dối. Người phục vụ tại Nhà Hàng Hồng Kông nhìn nhận có một số hội viên của Đền Thờ Sa tan tới đó ăn uống. Nếu nghi thức thờ Satan có được cử hành đi chăng nữa, thì việc cử hành này quả cũng chỉ lén lút trong đêm tối mà thôi, bị bác bỏ chứ không được chào đón, ngay tại một đại học có thói quen riễu cợt đức tin. Trên đường từ nơi thờ lạy Thánh Thể  ở Nhà Thờ Thánh Phaolô ra về, một người bạn của Lawler có gặp một số “tín đồ” của Đền Thờ Satan tại Quảng Trường Harvard. Người bạn này cho hay: “Xem ra họ hết sức giận dữ, với khuôn mặt xấu xa trông thấy, một số khác trái lại mang mặt nạ hay giấu mặt bằng một chiếc nón. Tôi nghĩ đâu có ai giấu mặt nếu hãnh diện về việc mình đang làm”. Bên trong Nhà Thờ Thánh Phaolô, không hề có một cảm quan tức giận nào: chỉ là một đức tin sâu xa, thầm lặng, vững vàng. Khó có thể nắm được bầu khí của cộng đoàn, nhưng các tấm hình đăng trên Facebook của tổng giáo phận cho ta một vài chỉ dẫn. Nhiếp ảnh gia của tờ Boston Globe chụp được hình ảnh của nhà thờ chật ních người và một vài tấm chụp cuộc rước kiệu. Nhiều thanh thiếu niên qùy ngay ở bậc cửa bằng đá, không khí thanh lặng trong nhà thờ, tiếng ca vang dội của bài Tantum Ergo, tất cả tỏa ra một sinh khí và một niềm vui lớn lao của đức tin Công Giáo. Khi cuộc rước kiệu từ từ đi vào Đại Lộ Massachusetts, một số khách qua đường bỗng qùy gối thờ lạy Chúa Thánh Thể; nhiều người khác tham gia ca hát. Lawler không thể đếm hết số người tràn vào nhà nguyện của trường MIT để bắt đầu cuộc rước, nhưng ông biết rõ nhiều người đã tham gia cuộc rước ở giữa đường. Ông tự hỏi không biết đâu là lần cuối thành phố Cambridge, vốn là thành lũy của chủ nghĩa cấp tiến duy tục, được chứng kiến một cuộc biểu dương đức tin Công Giáo như thế này. Một điều gì hết sức đặc biệt quả  đã diễn ra vào đêm thứ Hai vừa qua, và Lawler tin tưởng tiên đoán rằng ta sẽ được thấy kết quả của nó trong những năm sắp tới. Ơn thánh quả có thực, và ơn thánh hành động một cách hết sức bất ngờ. Bao nhiêu sinh viên Harvard không Công Giáo đã tới Nhà Thờ Thánh Phaolô để tỏ lòng tôn trọng các bạn bè Công Giáo của mình, và được thấy một điều gì đó khiến họ phải lưu ý tới đức tin, và lôi cuốn họ vào Giáo Hội? Bao nhiêu thanh thiếu niên, nhờ canh tân lòng mộ mến Thánh Thể của mình, mà cảm nhận được những thúc đẩy ban đầu của ơn gọi làm linh mục? Lawler cho rằng ta chưa biết được, vì ta chưa thắng được cuộc chiến thiêng liêng, nhưng rõ ràng ta đã mở được một chiến dịch tấn công. Và tất cả những điều trên xẩy ra chỉ vì một ít sinh viên bị lừa dối đã dự trù một hành động chế riễu phạm thánh, nhưng đã bị cộng đồng Công Giáo phản ứng một cách thích đáng: không bằng cú  đánh vô dụng của giận dữ mà bằng cuộc biểu dương đức tin đầy tự tin. Satan chơi quá tay và một lần nữa đã bị đốt trắng tay.            Nguồn: http://www.vietcatholic.net
Ơn Sức Mạnh Giúp Tín Hữu Trung Thành Với Chúa   Ơn sức mạnh mà Chúa Thánh Thần ban giúp tín hữu trung thành làm chứng cho Chúa và Tin Mừng của Người, cả khi phải sống trong các tình trạng khó khăn thử thách đớn đau cùng cực và hy sinh chính mạng sống mình nữa. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hơn 70.000 tín hữu và du khách năm châu trong buổi tiếp kiến sáng thứ tư 14-5-2014 tại quảng trường Thánh Phêrô. Ngoài các đoàn hành hương đến từ các nước như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp Đức, Áo, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Đan Mạch, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, còn có các nhóm đến từ nhiều nước Á châu như Ấn độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines, Indonesia và Việt Nam là đoàn hành hương giáo phận Vinh. Từ Châu Mỹ Latinh có các nhóm hành hương Mêhicô, Ecuador, Venezuela, Chilê, Argentina và Brasil. Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã khai triển đề tài giáo lý ơn sức mạnh hay ơn hùng dũng. Ngài nói: Anh chị em thân mến, chúng ta đã duyệt xét ba ơn đầu tiên của Chúa Thánh Thần là ơn khôn ngoan, ơn thông hiểu và ơn cố vấn hay khuyên nhủ. Hôm nay chúng ta nghĩ tới điều Chúa làm: Người luôn đến để nâng đỡ chúng ta trong sự yếu đuối của chúng ta, và điều này làm thành một ơn đặc biệt là ơn sức mạnh. Với ơn sức mạnh Chúa Thánh Thần giải tỏa thửa đất con tim của chúng ta khỏi trạng thái hôn mê, khỏi các bất ổn và mọi sợ hãi có thể ngăn cản nó, để cho Lời Chúa được thực hành một cách đích thật và tươi vui. Ơn sức mạnh này thật là một sự trợ giúp đích thực, trao ban sức mạnh cho chúng ta và cũng giải thoát chúng ta khỏi biết bao ngăn cản. Có một dụ ngôn, do chính Chúa Giêsu đã kể, giúp chúng ta hiểu tầm quan trọng của ơn hùng dũng. Đó là dụ ngôn người gieo giống ra đi gieo hạt. Tuy nhiên không phải mọi hạt đều đem lại kết qủa. Hạt rơi trên đường bị chim ăn mất; hạt rơi trên đất nhiều đá sỏi hay giữa bụi gai, nẩy mầm nhưng bị mặt trời làm khô héo hay bị gai bóp nghẹt. Chỉ có hạt rơi vào đất tốt có thể lớn lên và đơm bông hạt (x. Mc 4,3-9; Mt 13,3-9; Lc 8,4-8). Như chính Chúa Giêsu đã giải thích cho các môn đệ Người hiểu, người gieo giống là Thiên Chúa Cha là Đấng gieo vãi hạt giống Lời Người một cách tràn đầy. Tuy nhiên hạt giống thường gặp phải sự khô cằn của con tim chúng ta, và cả khi được tiếp nhận nó có nguy cơ không sinh sản. Xảy ra là có những lúc khó khăn và các tình trạng cùng cực, trong đó ơn sức mạnh được biểu lộ ra một cách ngoại thường, gương mẫu. Đó là trường hợp của những người phải đương đầu với các kinh nghiệm khó khăn và đau đớn, đảo lộn cuộc sống của họ và của những người thân thương của họ. Giáo Hội rạng ngời chứng tá của biết bao nhiêu anh chị em không ngần ngại hiến mạng sống mình, miễn là trung thành với Chúa và Tin Mừng của Người. Nghĩ tới các kitô hữu bị bách hại vì đức tin Đức Thánh Cha nói: Cả ngày nay nữa cũng không thiếu các kitô hữu tại nhiều phần trên thế giới tiếp tục cử hành và làm chứng cho đức tin của mình, với xác tín sâu thẳm và sự thanh thản, và họ kháng cự cả khi biết rằng phải trả một giá cao hơn cho điều đó. Cả chúng ta tất cả, chúng ta biết có người đã sống các tình trạng khó khăn và gặp biết bao đau khổ. Chúng ta hãy nghĩ tới các người nam nữ có một cuộc sống khó khăn, tranh đấu để đưa gia đình tiến tới, giáo dục con cái. Họ làm điều đó vì có thần khí sức mạnh giúp họ. Có biết bao nhiêu người mà chúng ta không biết tên nhưng họ vinh danh dân tộc của chúng ta, vinh danh Giáo Hội, bởi vì họ mạnh mẽ: mạnh mẽ trong việc đưa cuộc sống gia đình, công việc làm và đức tin tiến tới. Các anh chị em đó là thánh, thánh hàng ngày, thánh dấu ẩn giữa chúng ta. Họ có ơn sức mạnh để sống bổn phận là cha, là mẹ, là anh chị em, là công dân. Chúng ta có biết bao nhiêu vị thánh như thế. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì các kitô hữu có sự thánh thiện dấu ẩn đó, nhưng chính Chúa Thánh Thần ở bên trong đưa họ tiến tới! Thật là tốt cho chúng ta, khi nghĩ tới các anh chị em đó. Nếu họ có thể làm được, tại sao tôi lại không thể làm được? Và hãy xin Chúa cho chúng ta ơn sức mạnh. Sự kiện ấy luôn dấy lên nơi chúng ta một cảm xúc sâu xa, và không thể giải thích nó trên bình diện nhân loại, nếu không phải là do hoạt động của Chúa Thánh Thần, là Đấng tuôn đổ sức mạnh và sự tin tưởng cả trong những trạng huống khó khăn nhất trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta đừng nghĩ rằng ơn sức mạnh chỉ cần thiết trong những dịp hay tình trạng đặc biệt. Ơn này phải làm thành nốt chính cuộc sống kitô của chúng ta, trong cuộc sống thường ngày. Như tôi đã nói trong mọi ngày của cuộc sống thường ngày của chúng ta, chúng ta phải mạnh mẽ, chúng ta cần sự mạnh mẽ, để có thể đưa cuộc sống, gia đình và đức tin của chúng ta tiến tới. Tông đồ Phaolô đã nói một câu mà chúng ta nên nghe: ”Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4,13). Trong cuộc sống thường ngày, khi các khó khăn đến chúng ta hãy nhớ: ”Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi”. Chúa trao ban sức mạnh, luôn luôn, không thiếu. Chúa không thử thách chúng ta qúa sức chịu đựng của chúng ta. Người luôn ở với chúng ta. ”Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” Anh chị em thân mến, đôi khi chúng ta có thể bị cám dỗ để cho sự lười biếng hay tệ hơn sự chán nản cầm giữ chúng ta, nhất là trước các mệt nhọc và thử thách của cuộc sống. Trong các trường hợp đó chúng ta đừng mất tinh thần, nhưng hãy khẩn nài Chúa Thánh Thần, để với ơn sức mạnh Người có thể làm vơi nhẹ con tim của chúng ta và thông ban cho cuộc sống và việc theo Chúa Giêsu của chúng ta một sức mạnh mới và lòng hăng say. Đức Thánh Cha đã chào tín hữu và chúc họ có những ngày hành hương tươi vui và bổ ích. Chào các Nữ tử dòng thánh Camillo đang họp tổng tu nghị ngài chúc các chị là dấu chỉ tươi vui của tình yêu Chúa giữa những người đau khổ. Chào các tham dự viên cuộc hành hương do Hiệp hội ”Công trình nhỏ của Chúa Cứu Thế” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của người sáng lập là cha Arturo d'Onofrio, Đức Thánh Cha cầu mong họ là các dụng cụ của hòa bình và hòa giải trong mọi tình trạng sống và môi trường. Ngài cũng chào các nhóm của tổ chức chuyên chở bệnh nhân hành hương Lộ Đức thuộc nhiều tỉnh khác nhau, và chúc họ luôn biết lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần bằng cách khiến cho nó hoạt động trong cuộc sống cho thiện ích. Đức Thánh Cha cũng chào phái đoàn các tín hữu đảo Sardegna do các Giám Mục và chính quyền hướng dẫn về Roma hành hương để đáp lại chuyến viếng thăm của ngài trên đảo này. Ngài cũng chào đoàn đại biểu của tổ chức gọi là ”Vùng đất của lửa và chất độc” vùng Campania nam Italia, là nơi xảy ra nhiều cuộc hỏa hoạn đốt các thùng rác và chôn lén các hóa chất độc hại bị cấm, khiến cho rất nhiều người dân bị chết vì bệnh ung thư. Ngài tỏ tình liên đới với họ và cầu mong phẩm giá con người và các quyền sức khỏe luôn luôn được đặt trước mọi lợi lộc khác. Sau cùng chào các bạn trẻ, người đau yếu và các cặp vợ chồng mới cưới ngài xin Mẹ Maria, mà Giáo Hội biệt kính trong tháng 5 này, là thầy dậy sự dịu hiền và tình yêu cho các bạn trẻ, đỡ nâng người đau yếu trong những lúc khó khăn nhất của cô đơn và đau khổ. Ngài cũng xin Mẹ là gương mẫu cho các cặp vợ chồng mới cưới trong việc sống hiệp nhất và hòa thuận trong gia đình. Buổi tiếp kiến đã kết thúc với kinh Lậy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.           (Linh Tiến Khải, RadioVaticana 14.05.2014)  
Hãy Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi Và Giúp Các Chủ Chăn Thành Mục Tử Nhân Lành   Anh chị em hãy cầu nguyện cho ơn gọi linh mục, cho tất cả các chủ chăn và giúp các vị trở thành mục tử nhân lành biết trao ban sữa ơn thánh, giáo lý và sự hướng dẫn cho anh chị em. Đức Thánh Cha Phanxicô đã đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi đọc Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương năm châu tụ tập tại quảng trường Thánh Phêrô trưa Chúa Nhật 11-5-2014. Hôm qua là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành cũng là Ngày quốc tế cầu nguyện cho ơn gọi. Mở đầu bài huấn du ngài nói: Anh chi em thân mến, trong Chúa Nhật thứ IV mùa phục sinh thánh Gioan giới thiệu với chúng ta hình ảnh của Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành. Khi chiêm ngưỡng trang này của Phúc Âm, chúng ta có thể hiểu kiểu tương quan mà Chúa Giêsu có đối với các môn đệ Người: một tương quan dựa trên lòng hiền dịu, tình yêu thương, hiểu biết nhau và dựa trên lời hứa của một ơn không thể đo lường được: lời hứa ban cuộc sống dồi dào. Chúa Giêsu nói: ”Ta đến để chúng có sự sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Tương quan đó là mô thức của các liên hệ giữa các kitô hữu và liên hệ giữa con người với nhau. Ngày nay cũng như vào thời của Chúa Giêsu, có nhiều người tự đề nghị mình là chủ chăn của cuộc sống chúng ta, nhưng chỉ có Chúa Phục Sinh là Mục Tử đích thật duy nhất, là Đấng ban cho chúng ta sự sống tràn đầy. Tôi mời gọi tất cả mọi người tin tưởng nơi Chúa là Đấng hướng dẫn chúng ta. Người không chỉ hướng dẫn mà còn đồng hành và tiến bước với chúng ta nữa. Chúng ta hãy lắng nghe Lời Người với tâm trí rộng mở, để dưỡng nuôi đức tin của chúng ta, để soi sáng lương tâm chúng ta và đi theo các giáo huấn của Tin Mừng. Rồi Đức Thánh Cha xin tín hữu cầu nguyện cho hàng giáo sĩ như sau: Trong ngày Chúa Nhật này chúng ta hãy cầu nguyện cho các Chủ Chăn, cho tất cả các Giám Mục, gồm cả Giám Mục Roma nữa, và cho tất cả các linh mục. Cho tất cả. Cách đặc biệt chúng ta hãy cầu nguyện cho các tân linh mục của giáo phận Roma, mà tôi vừa mới truyền chức cho trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Xin gửi một lời chào tới 13 linh mục. Xin Chúa giúp chúng ta luôn trung thành với Thầy Giêsu và là những người hướng đạo khôn ngoan, được soi sáng của dân Chúa được ủy thác cho chúng ta. Tôi cũng xin anh chị em giúp chúng tôi trở thành các mục tử tốt. Có một lần tôi đã đọc được một điều rất hay đẹp cho biết dân Chúa trợ giúp các Giám Mục và các Linh Mục thành các chủ chăn tốt như thế nào. Đó là bút tích của thánh Cesario thành Arles, một trong các Giáo Phụ thuộc các thế kỷ đầu của Giáo Hội. Thánh nhân giải thích dân Chúa phải giúp chủ chăn như thế nào và đưa ra thí dụ này: ”Khi con bê đói, thì nó sà vào vú mẹ nó để bú. Nhưng con bò cái xem ra không cho con bú ngay, mà giữ sữa lại cho chính mình. Vậy con bê làm sao? Nó cứ dí mõm vào vú mẹ nó để nún sữa. Đây là hình ảnh thật đẹp! Thánh nhân nói: Anh chị em cũng phải làm như vậy với các chủ chăn, luôn luôn gõ vào cửa của các ngài, gõ vào con tim của các ngài, để các ngài cho anh chị em sữa giáo lý, sữa ơn thánh và sữa của sự hướng dẫn”. Tôi xin anh chị em hãy quấy rầy các chủ chăn, quầy rầy tất cả chúng tôi là các chủ chăn, để chúng tôi có thể cho anh chị em sữa của ơn thánh, của giáo lý và sự hướng dẫn. Hãy quấy rầy! Hãy nhớ tới hình ảnh đẹp này của con bê con quấy rầy mẹ nó thế nào để mẹ nó cho nó bú sữa. Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: Noi gương Chúa Giêsu mỗi chủ chăn ”đôi khi đi trước để chỉ đường và nâng đỡ niềm hy vọng của dân chúng - đôi lần mục tử phải đi trước - những lần khác phải ở giữa tất cả với sự gần gữi đơn sơ và lòng thương xót, và trong vài hoàn cảnh phải bước đi đàng sau dân chúng, để trợ giúp những ai ở lại đàng sau” (Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, 31) Ước chi tất cả mọi chủ chăn được như thế! Nhưng anh chị em phải quầy rầy các chủ chăn, để các vị trao ban sự hướng dẫn, giáo lý và ơn thánh cho anh chị em. Trong Chúa Nhật Ngày quốc tế cầu nguyện cho ơn gọi này, trong sứ điệp năm nay tôi đã nhác rằng: ”Mỗi một ơn gọi đòi hỏi phải ra khỏi chính mình để tập trung cuộc sống vào Chúa Kitô và Tin Mừng của Người” (s. 2). Vì thế lời mời gọi theo Chúa Giêsu cũng đồng thời hứng khởi và dấn thân. Để thực hiện nó, cần phải bước sâu vào tình bạn với Chúa để có thể sống nhờ Người và cho Người. Rồi Đức Thánh Cha mời gọi mọi người như sau: Chúng ta hãy cầu nguyện để cả ngày nay nữa, có nhìều người trẻ nghe tiếng Chúa luôn có nguy cơ bị bóp nghẹt bởi biết bao nhiêu tiếng nói khác. Chúng ta hãy cầu nguyện cho giới trẻ: biết đâu trong quảng trường này có ai đó nghe tiếng Chúa gọi làm linh mục. Chúng ta hãy cầu nguyện cho bạn trẻ đó, nếu họ ở đây, và cho tất cả mọi người trẻ được mời gọi. Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng và ban phép lành tòa thánh cho mọi người Sau Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng Đức Thánh Cha đã chào nhiều nhóm khác nhau, đặc biệt là Phong trào Tân dự tòng trong ngày Chúa Nhật này loan báo Chúa Giêsu phục sinh tại 100 quảng trường ở Roma, và trong biết bao nhiêu thành phố khác trên thế giới. Xin Chúa ban cho anh chị em niềm vui của Tin Mừng. Anh chi em giỏi lắm, cứ tiến bước! Ngài cũng đã chào các trẻ em mới rước lễ lần đầu và mới chịu phép Thêm Sức. Đặc biệt Đức Thánh Cha đã chào và chúc mừng các bà mẹ trong ngày Chúa Nhật hiền mẫu. Ngài nói: Hôm nay tôi mời anh chị em hãy nhớ tới các bà mẹ và cầu nguyện cho tất cả mọi bà mẹ. Chúng ta hãy chào các bà mẹ. Chúng ta hãy phó thác các bà mẹ của chúng ta và tất cả mọi bà mẹ cho Mẹ Chúa Giêsu. Chúng ta hãy cầu xin Đức Mẹ, và Đức Thánh Cha đã cùng mọi người đọc một Kinh Kính Mừng cầu cho các bà mẹ. Xong ngài nói thêm: Xin chào các bà mẹ nhé, một lời chào nồng nhiệt! Trước đó vào lúc 9.30 sáng Đức Thánh Cha đã chủ sự thánh lễ truyền chức Linh Mục cho 13 phó tế, gồm 5 thầy người Ý, 1 thầy người Đức, 1 thầy người Venezuela, 1 thầy Chile, 1 thầy Ecuador, 1 thầy Brasil, 1 thầy Nam Hàn, 1 thầy Pakistan và 1 thầy Việt Nam là thầy Phaolô Nguyễn Thiên Tạo thuộc giáo phận Vinh. Cùng tham dự thánh lễ với 10.000 giáo dân có thân nhân của các tiến chức, nhân viên tòa đại sứ; từ Việt Nam có mấy linh mục thuộc giáo phận Vinh. Giảng trong thánh lễ Đức Thánh Cha đã xin các tiến chức đừng bao giờ mệt mỏi thương xót, nhưng luôn có khả năng tha thứ. Các Linh Mục không phải là ”chủ nhân của giáo lý”, nhưng là những người trung thành với giáo lý. Ngài năn nỉ các tân linh mục: ”Ở đây cha muốn dừng lại, và xin các con, vì tình yêu Chúa Giêsu Kitô: đừng bao giờ mệt mỏi thương xót! Các con hãy có khả nẳng tha thứ như Chúa, là Đấng không đến để lên án, nhưng để tha thứ! Các con hãy thương xót thật nhiều! Và nếu có áy náy vì là những linh mục qúa tha thứ, thỉ hãy nhớ đến vi linh mục thánh kia đến trước Nhà Tạm và thưa với Chúa rằng: Lậy Chúa, xin tha thứ cho con, nếu con đã tha thứ nhiều qúa. Nhưng mà chính Chúa đã làm gương xấu cho con đấy chứ!” Cha nói thật với các con, cha đau lòng lắm, khi thấy giáo dân không đến xưng tội vì họ bị quất bằng gậy, bị la mắng trong tòa giải tội. Thật là xấu. Ho đã cảm thấy cửa nhà thờ đóng sầm trước mặt họ. Cha xin các con, chớ làm như vậy! Thương xót! Thương xót! Mục Tử Nhận Lành vào qua cửa, và cửa của lòng xót thương là các vết thương của Chúa: nếu các con không bước vào chức thừa tác của các con qua các vết thướng của Chúa, thì các con sẽ không phải là các mục tử tốt lành”. Các linh mục phải là những người rao giảng Tin Mừng, chủ chăn của dân Thiên Chúa, chủ sự các sinh hoạt phụng tự, đặc biệt là cử hành hiến tế của Chúa, dậy dỗ giáo lý. Đức Thánh Cha nhắn nhủ các tiến chức: Vậy giáo lý của các con hãy là lương thực cho dân Chúa. Giáo lý của Chúa chứ không phải của các con, và các con phải trung thành vớ giào lý ấy. Đối với tìn hữu các con hãy là niềm vui và sự đỡ nâng của Chúa Kitô, hương thơm cuộc sống của các con, bởi vì với lời nói và gương sống các con xây ngôi nhà của Thiên chúa là Giáo Hội. Hãy kiên trì đọc và suy niệm Thánh Kinh, hãy dậy điều đã học trong đức tin và sống điều mình đậy. Hãy hiệp thông con thảo với Giám Mục và hiệp nhất các tìn hữu trong một gia đình duy nhất và dẫn đưa họ tời với Thiên Chúa Cha, qua Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần. Hãy luôm có trước mắt gương của vị Mục Tử Nhân Lành, tới không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và cứu vớt những gì đã hư mất.        (Linh Tiến Khải, RadioVaticana 10.05.2014)  
  Video: Lễ Phong Thánh Cho Hai Vị Giáo Hoàng Gioan 23 Và Gioan Phaolo II   Trên quảng trường Thánh Phêrô và tràn ra Đại Lộ Hòa Giải xa tít khỏi tầm mắt là hàng triệu tín hữu trong đó đông đảo nhất là các tín hữu Ý và sau đó là các tín hữu Ba Lan. Kính thưa quý vị và anh chị em, Đức Thánh Cha Phanxicô vừa làm dấu thánh giá khai mạc buổi lễ. Để tiện cho quý vị theo dõi buổi lễ chúng tôi xin lược thuật qua những phần chính của buổi lễ như sau, xen kẽ giữa những phần này là các bài thánh ca.                                                             {youtube}http://www.youtube.com/watch?v=2qTuL5zCxDQ&feature=share{/youtube} Đức Hồng Y Angelo Amato, tổng trưởng Bộ Phong Thánh cùng các cáo thỉnh viên của án phong thánh sẽ tiến lên xin Đức Thánh Cha Phong Thánh cho hai vị là Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII và Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô II. Phần quan trọng nhất trong lễ nghi ngày hôm nay sẽ diễn ra sau đó với việc Đức Thánh Cha Phanxicô long trọng đọc công thức Phong Thánh và tuyên bố hai vị Chân Phước Giáo Hoàng là Thánh. Sau đó, các phần của Thánh Lễ ngày Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa sẽ diễn ra như thường lệ. Kính thưa quý vị và anh chị em, Dưới đây là tiểu sử chính thức của hai vị Giáo Hoàng 1. Tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan XXIII Angelo Giuseppe Roncalli sinh ngày 25 tháng 11 năm 1881, tại Sotto il Monte, thuộc giáo phận và tỉnh Bergamo. Là con thứ tư của gia đình, ngài được rửa tội cùng ngày. Dưới sự dìu dắt của vị linh mục chính xứ xuất chúng, Cha Francesco Rebuzzini, ngài được đào tạo sâu sắc về phương diện Giáo Hội, một sự đào tạo sẽ nâng đỡ ngài trong lúc khó khăn và gợi hứng cho ngài trong các công tác tông đồ. Ngài được thêm sức và rước lễ lần đầu năm 1889 và gia nhập chủng viện Bergamo năm 1892. Ngài tiếp tục học cổ điển và thần học tại đây cho tới năm thứ hai thần học. Mới chỉ là một thiếu niên 14 tuổi, ngài đã bắt đầu viết nhật ký thiêng liêng và lưu giữ chúng dưới nhiều hình thức khác nhau cho tới ngày qua đời. Sau này, tất cả các nhật ký này đã được gom lại thành cuốn Nhật Ký Của Một Linh Hồn. Chính tại nơi này, ngài bắt đầu thực hành đều đặn việc linh hướng. Ngày 1 tháng 3 năm 1896, vị linh hướng của Chủng Viện Bergamo, Cha Luigi Isacchi, ghi danh cho ngài gia nhập Dòng Ba Phanxicô; ngài khấn luật dòng này ngày 23 tháng 5 năm 1897. Từ năm 1901 tới năm 1905, ngài theo học Giáo Hoàng Học Viện Rôma, nơi ngài được giáo phận Bergamo cấp học bổng cho các sinh viên ưu tú. Trong khoảng thời gian này, ngài hoàn tất một năm nghĩa vụ quân sự. Ngài được truyền chức linh mục ngày 10 tháng 8 năm 1904 ở Rôma, tại nhà thờ Santa Maria in Monte Santo in Piazza del Popolo. Năm 1905, ngài được cử làm thư ký cho tân giám mục của giáo phận Bergamo, là Đức Cha Giacomo Maria Radini Tedeschi. Ngài giữ vai trò này cho tới năm 1914, tháp tùng Đức Cha đi thăm viếng mục vụ và tham gia nhiều sáng kiến mục vụ khác như hội đồng giám mục, viết xã luận cho nguyệt san giáo phận tên là La Vita Diocesana (Sinh Hoạt Giáo Phận), đi hành hương và nhiều công trình xã hội khác nhau. Ngài cũng dạy các môn lịch sử, giáo phụ học và hộ giáo tại chủng viện. Năm 1910, khi duyệt lại qui chế của Công Giáo Tiến Hành, Đức Cha giáo phận trao cho ngài việc chăm sóc mục vụ cho các phụ nữ Công Giáo (phân bộ V). Ngài thường xuyên viết cho nhật báo Công Giáo của giáo phận Bergamo. Ngài cũng là một diễn giả cần mẫn, sâu sắc và hữu hiệu. Đó là những năm ngài tiếp xúc sâu sắc với các vị thánh giám mục: Thánh Charles Borromeo (mà tác phẩm Atti della Visita Apostolica, được hoàn thành tại Bergamo năm 1575, sẽ được chính ngài phát hành sau này), Thánh Phanxicô de Sales và chân phúc Gregorio Barbarigo. Đó cũng là những năm tháng hoạt động mục vụ vĩ đại bên cạnh Đức Cha Radini Tedeschi. Khi vị này qua đời vào năm 1914, Cha Roncalli tiếp tục thừa tác vụ linh mục của mình trong vai trò giáo sư chủng viện và phụ tá linh hướng cho nhiều hiệp hội Công Giáo. Khi Ý tham chiến vào năm 1915, ngài bị gọi thi hành nghĩa vụ quân sự trong tư cách trung sĩ quân y. Một năm sau, ngài trở thành tuyên úy quân đội, phục vụ tại các bệnh viện quân sự tại hậu phương, và phối hợp việc chăm sóc thiêng liêng và luân lý cho các binh sĩ. Lúc chấm dứt chiến tranh, ngài mở một Cư Xá Cho Các Sinh Viên và chính ngài cũng phục vụ làm tuyên úy cho sinh viên. Năm 1919, ngài được cử làm linh hướng cho chủng viện. Năm 1921 đánh dấu giai đoạn hai trong cuộc đời của ngài: phục vụ Tòa Thánh. Được Đức Bênêđíctô XV triệu về Rôma làm chủ tịch hội đồng trung ương Hội Truyền Bá Đức Tin của Ý, ngài đi thăm nhiều giáo phận và nhiều giới truyền giáo có tổ chức của Ý. Năm 1925, Đức Piô XI cử ngài làm Khâm Sứ Tòa Thánh tại Bulgaria, nâng ngài lên chức giám mục, hiệu tòa Areopolis. Ngài chọn khẩu hiệu giám mục là Oboedentia et Pax (vâng lời và bình an), một khẩu hiệu được dùng làm chương trình cho đời ngài. Được phong chức giám mục ngày 19 tháng 3, năm 1925, ngài tới Sophia ngày 25 tháng 4. Sau đó, được cử làm Đại Diện Tòa Thánh đầu tiên tại Bulgaria, Đức Tổng Giám Mục Roncalli tiếp tục phục vụ tại đây cho tới năm 1934, thăm viếng các cộng đoàn Kitô Giáo và phát huy các mối liên hệ tương kính đối với các cộng đoàn Kitô Giáo khác. Ngài có mặt và cung cấp nhiều trợ giúp bác ái trong vụ động đất năm 1928. Ngài âm thầm chịu đựng các hiều lầm cũng như các khó khăn trong thừa tác vụ của mình. Ngài phát triển việc hiểu mình và niềm tự tin cũng như phó thác trong tay Chúa Kitô chịu đóng đinh. Ngày 27 tháng 11 năm 1934, Ngài được cử làm Đại Diện Tòa Thánh tại Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp. Trách nhiệm mới của ngài bao trùm một khu vực khá rộng. Giáo Hội Công Giáo hiện diện nhiều cách tại Cộng Hòa non trẻ Thổ Nhĩ Kỳ; Cộng Hòa này đang trong diễn trình đổi mới và tự tổ chức. Thừa tác vụ của ngài đối với người Công Giáo khá đòi hỏi và ngài được tiếng trong cung cách kính trọng của ngài và trong việc đối thoại với người Chính Thống Giáo và Hồi Giáo. Lúc Thế Chiến Hai bùng nổ, ngài đang có mặt tại Hy Lạp, lúc ấy đang bị chiến trận tàn phá. Ngài tìm cách thâu lượm tin tức về tù binh chiến tranh và ra tay cứu sống nhiều người Do Thái bằng cách phát hành nhiều chiếu khán quá cảnh cho họ. Ngày 6 tháng 12 năm 1944, ngài được Đức Piô XII cử làm Sứ Thần Tòa Thánh tại Paris. Trong những ngày cuối cùng của chiến tranh và trong những ngày đầu của hòa bình, Đức TGM Roncalli trợ giúp các tù binh chiến tranh và góp tay phục hồi ổn định cho sinh hoạt của Giáo Hội Pháp. Ngài thăm viếng các đền thờ của Pháp và tham dự các lễ lạy bình dân cũng như các biến cố tôn giáo có ý nghĩa hơn. Ngài chăm chú, khôn ngoan và đáng tin trong cách tiếp cận với các sáng kiến mục vụ mới do các linh mục và giám mục Pháp đưa ra. Ngài không ngừng tìm cách nhập thân tính đơn giản của Tin Mừng, cả khi phải đương đầu với những vấn đề ngoại giao phức tạp nhất. Ý muốn trở thành linh mục luôn nâng đỡ ngài trong mọi hoàn cảnh. Lòng đạo đức sâu sắc của ngài được phát biểu rõ ràng trong các thời điểm cầu nguyện và suy ngắm. Ngày 12 tháng 1 năm 1953, ngài được tấn phong Hồng Y và ngày 25 tháng 1, ngài được cử làm Thượng Phụ Venice. Ngài hân hoan được tận hiến quãng đời sau cùng của ngài cho thừa tác vụ mục vụ trực tiếp, một nguyện vọng ngài luôn trân quí trong đời linh mục. Ngài là một mục tử khôn ngoan và đầy sinh lực, sẵn sàng bước theo chân các vị giám mục thánh thiện mà ngài hằng ngưỡng mộ: Thánh Lorenso Giustiniani, thượng phụ tiên khởi của Venice và thánh Piô X. Càng có tuổi, ngài càng tín thác nơi Chúa Kitô, trong bối cảnh một thừa tác vụ tích cực, mạnh dạn và đầy hân hoan. Sau khi Đức Piô XII qua đời, ngài đựợc bầu làm giáo hoàng ngày 28 tháng 10 năm 1958, lấy tông hiệu là Gioan XXIII. Trong 5 năm làm giáo hoàng, ngài xuất hiện với thế giới như là hình ảnh đích thực của Người Chăn Chiên Tốt Lành. Khiêm nhường và hiền lành, tháo vát và đảm lược, đơn sơ và luôn tích cực, ngài đảm nhiệm nhiều công trình bác ái phần xác và phần hồn, thăm viếng tù nhân và người bệnh, chào đón người thuộc mọi quốc gia và tôn giáo, biểu lộ một cảm thức phụ tử tuyệt diệu với mọi con người. Huấn quyền xã hội của ngài chứa đựng trong thông điệp Mẹ và Thầy (1961) và Hoà Bình Tại Thế (1963). Ngài triệu tập công đồng Rôma, thiết lập Ủy Ban Duyệt Xét Bộ Giáo Luật, và triệu tập Công Đồng Vatican II. Là giám mục Rôma, ngài đi thăm các giáo xứ và các nhà thờ trong trung tâm lịch sử và các khu ngoại thành. Nơi ngài, dân chúng nhận ra sự phản ảnh của benignitas evangelica (lòng nhân hậu của tin mừng) nên đã gọi ngài là “vị giáo hoàng nhân hậu”. Một tinh thần cầu nguyện sâu sắc luôn nâng đỡ ngài. Là sức mạnh lèo lái đứng đàng sau phong trào canh tân Giáo Hội, ngài nhập thân sự bình an của một người luôn tín thác hoàn toàn nơi Chúa. Ngài cương quyết tiến bước trên con đường phúc âm hóa, đại kết và đối thoại, và biểu lộ một quan tâm phụ tử muốn vươn tay ra cho tất cả những con cái cơ cực nhất. Ngài qua đời tối ngày 3 tháng 6 năm 1963, ngày Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, trong một tinh thần phó thác sâu xa cho Chúa Giêsu, tha thiết được nằm trong vòng tay Người, và được bao bọc bằng lời cầu nguyện của toàn thế giới; dừng như cả thế giới đang quây quần cạnh giường ngài để cùng ngài thở hơi thở yêu thương Chúa Cha. Đức Gioan XXIII được Đức Gioan Phaolô II phong chân phúc ngày 3 tháng 9 năm 2000 tại quảng trường Thánh Phêrô, trong Năm Đại Thánh 2000. 2. Tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II Karol Józef Wojtyla, được bầu làm giáo hoàng ngày 16 tháng 10 năm 1978, sinh tại Wadowice, Ba Lan, ngày 18 tháng 5 năm 1920. Ngài là con thứ ba trong số ba người con của ông Karol Wojtyla và bà Emilia Kaczorowska, người đã qua đời năm 1929. Anh trai của ngài là Edmund, một y sĩ, qua đời năm 1932, và cha ngài, ông Karol, một viên hạ sĩ quan của lục quân, qua đời năm 1941. Lên 9, ngài được rước lễ lần đầu. Và lên 18, ngài được thêm sức. Sau khi tốt nghiệp trung học tại Wadowice, ngài ghi danh học tại Đại Học Jagellonian ở Krakow năm 1938. Khi lực lượng chiếm đóng của Quốc Xã đóng cửa trường đại học vào năm 1939, Karol làm việc trong một hầm đá và sau đó trong nhà máy hóa chất Solvay (1940-1944) để kiếm kế sinh nhai và tránh khỏi bị phát vãng qua Đức. Cảm nhận mình được kêu gọi làm linh mục, năm 1942, ngài bắt đầu theo học đại chủng viện chui của giáo phận Krakow, do Đức TGM Adam Stefan Sapieha điều khiển. Trong thời gian này, ngài là một trong những người tổ chức ra Ban Kịch Sống Động, hoạt động trong bóng tối. Sau chiến tranh, Karol tiếp tục việc học tại đại chủng viện mới được mở lại, và tại trường thần học của Đại Học Jagellonian cho tới khi được thụ phong linh mục tại Krakow ngày 1 tháng 11 năm 1946. Sau đó, tân linh mục Wojtyla được Đức HY Sapieha gửi tới Rôma, nơi ngài đậu bằng tiến sĩ thần học năm 1948. Ngài viết luận án về đức tin như đã được hiểu trong các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá. Lúc còn học ở Rôma, ngài dành kỳ nghỉ làm mục vụ cho các các di dân Ba Lan ở Pháp, ở Bỉ và ở Hòa Lan. Năm 1948, Cha Wojtyla trở về Ba Lan và được cử làm phó xứ tại nhà thờ Niegowic, gần Krakow, và sau đó tại nhà thờ Thánh Florian ở trung tâm thành phố. Ngài là tuyên úy đại học cho tới năm 1951, lúc ngài đi học triết học và thần học một lần nữa. Năm 1953, Cha Wojtyla trình luận án tại ĐH Jagellonian về việc có thể đặt cơ sở cho đạo đức học Kitô Giáo trên hệ thống đạo đức của Max Scheller. Sau đó, ngài trở thành giáo sư thần học luân lý tại Đại Chủng Viện Krakow và tại phân khoa thần học của ĐH Lublin. Ngày 4 tháng 7 năm 1958, Đức Piô XII cử Cha Wojtyla làm giám mục phụ tá của giáo phận Krakow, hiệu tòa Ombi. Đức TGM Eugeniusz Baziak tấn phong ngài tại Nhà Thờ Chính Toà Wawel (Krakow) ngày 28 tháng 9 năm 1958. Ngày 13 tháng 1 năm 1964, Đức Phaolô VI của Đức Cha Wojtyla làm Tổng Giám Mục Krakow và sau đó, ngày 26 tháng 6 năm 1967, ngài được phong Hồng Y. Đức Cha Wojtyla tham dự Công Đồng Vatican II (1962-1965) và đưa ra nhiều đóng góp có ý nghĩa trong việc soạn thảo hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng. Ngài cũng tham dự 5 kỳ họp của Thượng HỘi Đồng Giám Mục trước khi được bầu làm giáo hoàng. Ngày 16 tháng 10 năm 1978, Đức HY Wojtyla được bầu làm giáo hoàng và ngày 22 tháng 10, ngài bắt đầu thừa tác vụ của ngài như là Mục Tử của toàn thể Giáo Hội. Đức Gioan Phaolô II thực hiện 146 cuộc tông du tại Ý, và trong tư cách Giám Mục Rôma, ngài thăm 317 trong tổng số 322 giáo xứ Rôma. Các cuộc tông du quốc tế của ngài lên tới 104; các cuộc tông du này nói lên quan tâm mục vụ thường hằng của Người Kế Nhiệm Thánh Phêrô đối với mọi Giáo Hội. Các văn kiện chính của ngài bao gồm 14 thông điệp, 15 tông huấn, 11 tông hiến và 45 tông thư. Ngài cũng viết 5 cuốn sách: Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng (10/1994); Hồng Phúc và Mầu Nhiệm: Kỷ Niệm Lần Thứ 15 Tôi Được Thụ Phong Linh Mục” (tháng 11 năm 1996), Tranh Ba Bức Rôma: Suy Niệm Trong Thi Ca (tháng 3, 2003), Đứng Dậy, Nào Ta Lên Đường (Tháng 5, 2004) và Ký Ức Và Bản Sắc (tháng 2, 2005). Đức Gioan Phaolô II cử hành 147 lễ phong chân phúc, trong đó, ngài đã phong chân phúc cho 1,338 vị, và cử hành 51 lễ phong thánh cho tất cả 482 vị. Ngài triệu tập 9 mật nghị viện Hồng Y, trong đó ngài tấn phong Hồng Y cho 231 vị (và 1 vị in pectore). Ngài cũng chủ tọa 6 phiên họp toàn thể Hồng Y Đoàn. Từ năm 1978, Đức Gioan Phaolô II triệu tập 15 phiên họp của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế giới: 6 phiên khoáng đại thông thường (1980, 1983, 1987, 1990, 1994 và 2001), 1 phiên khoáng đại bất thường (1985) và 8 phiên đặc biệt (1980, 1991, 1994, 1995, 1997, 1998 [2] và 1999). Ngày 3 tháng 5 1981, một vụ mưu sát Đức Gioan Phaolô II đã diễn ra tại Quảng trường Thánh Phêrô . Được bàn tay từ mẫu của Mẹ Thiên Chúa cứu chữa, sau một kỳ dưỡng thương dài tại bệnh viện, ngài đã tha thứ cho kẻ mưu toan sát nhân và, vì ý thức rằng mình đã lãnh nhận một hồng ân vĩ đại, nên ngài đã tăng cường các cam kết mục vụ của ngài một cách quảng đại anh hùng. Đức Gioan Phaolô II cũng đã biểu lộ quan tâm mục vụ của ngài qua việc thiết lập khá nhiều giáo phận và giáo hạt, và qua việc công bố các bộ giáo luật cho các Giáo Hội La Tinh và Đông Phương, cũng như Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo. Ngài công bố Năm Cứu Chuộc, Năm Thánh Mẫu và năm Thánh Thể cũng như Năm Đại Thánh 2000 để cung cấp cho Dân Thiên Chúa những trải nghiệm thiêng liêng hết sức nồng đậm. Ngài cũng lôi cuốn giới trẻ bằng cách khởi sự cử hành Ngày Giới Trẻ Thế Giới. Không có vị giáo hoàng nào khác từng gặp gỡ nhiều người như Đức Gioan Phaolô II. Hơn 17 triệu 6 trăm nghìn khách hành hương đã tham dự các buổi yết kiến chung vào ngày thứ Tư (tổng cộng 1,160 buổi). Đó là chưa tính các buổi yết kiến đặc biệt cũng như nhiều nghi thức tôn giáo khác (hơn 8 triệu khách hành hương nguyên trong Năm Đại Thánh 2000). Ngài gặp hàng triệu tín hữu trong các cuộc viếng thăm mục vụ tại Ý và trên khắp thế giới. Ngài cũng tiếp nhiều viên chức các chính phủ tới yết kiến, trong đó, có 38 cuộc viếng thăm chính thức và 738 cuộc yết kiến và gặp mặt các quốc trưởng, cũng như 246 cuộc yết kiến và gặp mặt các vị thủ tướng. Đức Gioan Phaolô II qua đời tại Tông Điện lúc 9 giờ 37 đêm thứ Bẩy, ngày 2 tháng Tư năm 2005, hôm vọng Chúa Nhật Áo Trắng (in albis) hay Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót, mà chính ngài thiết lập. Ngày 8 tháng Tư, lễ an táng ngài cách long trọng đã được cử hành tại Quảng trường Thánh Phêrô và xác ngài được chôn cất trong hầm Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô. Đức Gioan Phaolô II được Đức Bênêđíctô XVI, vị kế nhiệm cận kề của ngài và là người cộng tác được ngài trân quí trong tư cách tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, phong chân phúc tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 1 tháng 5 năm 2011. 3. Nghi thức phong Thánh Sau khi cộng đoàn kết thúc kinh cầu các thánh, Đức Thánh Cha đọc: Lậy Chúa nhân từ, xin nghe lời dân Chúa cầu xin và xin chiếu dọi ánh sáng Thần Linh Chúa vào tâm trí chúng con, để việc phụng thờ của chúng con làm đẹp lòng Chúa và cho Giáo Hội được thêm phát triển. Nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen. Giờ đây, Đức Hồng Y Angelo Amato và các cáo thỉnh viên tiến đến trước Đức Thánh Cha và thưa cùng ngài Trọng Kính Đức Thánh Cha, Giáo Hội Mẹ Thánh tha thiết khẩn xin Đức Thánh Cha ghi vào sổ bộ các Thánh hai vị Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II để các ngài có thể được kêu cầu như thế bởi tất cả các tín hữu Kitô. Đức Thánh Cha đáp: Anh chị em thân mến, Chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha toàn năng nhờ Chúa Giêsu Kitô và nhờ sự chuyển cầu của Đức Mẹ và tất cả các Thánh xin Ngài đoái thương nâng đỡ quyết định long trọng chúng ta sắp thực hiện. Lạy Chúa, chúng con xin Chúa đoái thương nhận lời cầu của dân Ngài để việc phụng thờ của chúng con làm đẹp lòng Chúa và cho Giáo Hội được thêm phát triển. Nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen. Giờ đây, Đức Hồng Y Angelo Amato thưa cùng ngài lần thứ hai Trọng Kính Đức Thánh Cha, Được củng cố bởi lời đồng thanh cầu nguyện, Hội Thánh tha thiết khẩn xin Đức Thánh Cha ghi vào sổ bộ các thánh những người con sau của Giáo Hội: Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II Đức Thánh Cha đáp: Anh chị em thân mến, Chúng ta hãy cầu khẩn cùng Thánh Thần Chúa, Đấng ban sự sống, để Ngài soi sáng cho tâm trí chúng ta và Chúa Kitô không để cho Giáo Hội của mình phạm sai lầm trong một vấn đề có tầm quan trọng như thế này. Kính thưa quý vị và anh chị em, Cộng đoàn đang cùng hát bài Veni, Creator Spiritus – Thánh Thần Hãy Xin Ngự Đến Sau bài hát, Đức Hồng Y Angelo Amato thưa cùng Đức Thánh Cha lần thứ ba Trọng Kính Đức Thánh Cha, Giáo Hội thánh thiện, tin tưởng vào Lời Chúa hứa sẽ gửi đến trên Giáo Hội Thần Khí của Sự thật, Đấng trong mọi thời đại giữ cho Huấn Quyền tối thượng khỏi những sai lầm tha thiết khẩn xin Đức Thánh Cha ghi vào sổ bộ các thánh những vị sau đã được Giáo Hội chọn:Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II Giờ đây, Đức Thánh Cha long trọng đọc công thức phong thánh. Để tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh, để phát huy đức tin Công Giáo và củng cố đời sống Kitô hữu, với quyền lực của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, của hai Thánh Tông đồ Phêrô, Phaolô và của riêng tôi, sau khi đã suy nghĩ chín chắn, cũng như đã nhiều lần cầu xin ơn trợ giúp của Thiên Chúa, đã tham khảo ý kiến của nhiều Chư huynh Giám mục, tôi quyết định tuyên bố: Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII và Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô II là Thánh và được ghi vào sổ bộ các Thánh và truyền rằng các vị tôn kính như vậy bởi toàn thể Giáo Hội. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen Đức Hồng Y Angelo Amato đáp: Trọng kính Đức Thánh Cha , nhân danh Hội Thánh con cảm ơn Đức Thánh Cha đã công bố điều này và khiêm tốn thỉnh cầu ngài truyền rằng một tông thư liên quan đến hành động phong Thánh này được thảo ra. Đức Thánh Cha bày tỏ sự đồng thuận. Đức Hồng Y Angelo Amato tiến lên trao đổi cái hôm bình an với Đức Thánh Cha Thánh lễ Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót đã được tiếp tục với Kinh Vinh Danh.  
TGP.SÀI GÒN: Thánh Lễ Tạ Ơn Của Đức Tân Tổng Giám Mục   Sáng ngày thứ năm, 24/4/2014, tại nhà thờ Chánh Tòa Sài Gòn, một thánh lễ tạ ơn được cử hành trang trọng nhân dịp Đức TGM phó Phaolô Bùi Văn Đọc chính thức nhận chức Tổng Giám Mục TGP Sài Gòn. Tham dự thánh lễ có các Đức Giám Mục trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và các thành phần dân Chúa trong TGP Sài Gòn. Cách nay sáu tháng, dân Chúa nô nức đón Đức Cha Phaolô từ GP Mỹ Tho về Sài Gòn nhận chức TGM phó với quyền kế vị; ngày 22/3/2014, ĐTC Phanxicô đã chấp thuận đơn từ nhiệm của Đức Hồng Y GB. Phạm Minh Mẫn theo Giáo Luật và bổ nhiệm Đức Cha Phaolô làm TGM Chánh Tòa TGP Sài Gòn; đây là lý do của thánh lễ tạ ơn được hiệp dâng hôm nay. Mở đầu thánh lễ, cha sở nhà thờ Chánh Tòa, quí cha quản hạt trong GP đón Đức Tân TGM đến trước tượng đài Đức Mẹ Hòa Bình, để cùng cầu nguyện. Sau đó Đức Tân TGM tiến vào cửa Vương Cung Thánh Đường cùng với Đức Hồng Y Gioan Baotixita mặc lễ phục; tiếp theo đó, Đức Hồng Y trao gậy mục tử cho Đức Tân TGM với ý nghĩa “Gậy mục tử là dấu chỉ nhiệm vụ dẫn dắt dân Chúa và chăm lo cho đoàn chiên Chúa trong Tổng Giáo phận mà Thiên Chúa và Hội Thánh ủy thác cho Ngài”. Các Đức Giám Mục thuộc 26 Giáo phận của Việt Nam cùng với Đức Hồng Y và Đức Tân TGM tiến lên cung thánh trong khi ca đoàn hát bài “Tôi Mừng Vui”. Trên cung thánh, người dự thấy khẩu hiệu Giám mục của Đức Tân TGM rất rõ: “Chúa là niềm vui của con”. Bước vào cung thánh, Đức Hồng Y dẫn Đức Tân TGM đến ngồi trên “tòa”; (“Tòa” ở đây là ghế Giám mục ngồi, vì thế nhà thờ Đức Bà Sài Gòn được gọi là Nhà Thờ Chánh Tòa). Tòa này tượng trưng cho quyền giảng dạy và quyền mục tử của Đức Tổng Giám Mục. Đây cũng là dấu chỉ hiệp nhất của toàn thể các tín hữu trong cùng một đức tin mà Đức TGM loan báo trong tư cách là mục tử của đoàn chiên Chúa. Trước khi thánh lễ bắt đầu, các linh mục, tu sĩ và anh chị em giáo dân đại diện cho các thành phần dân Chúa, đã đọc lên tâm tình bày tỏ lòng kính trọng và vâng phục đối với vị Tân TGM qua ba ý sau: - Hết lòng kính trọng và vâng phục Đức Tân TGM; sẵn sàng lãnh nhận và chu toàn mọi trách vụ được giao. - Hiệp thông và cộng tác với Đức Tân Tổng Giám Mục. - Nỗ lực học hỏi Lời Chúa và hoàn thiện bản thân. Thánh lễ được cử hành trong bầu khí trang nghiêm và sốt sắng. Bài giảng của Đức Tân TGM không quá dài, vừa đủ để nhấn mạnh về tình yêu Thiên Chúa Phục Sinh; cụ thể là hai đoạn bài giảng của Đức Tân TGM: “Chúa Giêsu Phục Sinh rất thích hiện ra với các môn đệ của Ngài, nhất là nhóm 11, hiện ra để đàm đạo với các ông, để gần gũi, ăn uống với các ông, để giáo huấn, giải thích lời Thánh Kinh cho các ông. Ngài mở lòng mở trí cho các ông, giúp cho các ông hiểu sách Kinh Thánh. Các tông đồ cũng thế, rất thích gặp Chúa Giêsu Phục Sinh. Những lần gặp đầu, có thể còn bỡ ngỡ, vì chưa kịp chuẩn bị tâm lý, nhưng sau vài lần thì quen, và thích gặp Chúa thường xuyên. Chúa đã chiều theo ý các ông, như lời Thánh Luca trong sách Công vụ Tông đồ: “Trong bốn mươi ngày Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa”. Dựa trên Lời Chúa, tôi tin chắc rằng Chúa Giêsu Phục Sinh cũng rất muốn gặp chúng tôi, muốn gặp các giám mục, những người kế vị các tông đồ của Ngài. Các giám mục có muốn gặp Ngài không? Tôi nghĩ rằng: muốn lắm, muốn lắm chứ!” Và Đức Tân TGM tha thiết: “Anh chị em hãy cầu nguyện thật nhiều cho chúng tôi, các mục tử của anh chị em, để chúng tôi được như lòng Chúa mong ước, và tha thứ các thiếu sót lỗi lầm của chúng tôi trong khi phục vụ anh chị em. Xin cho chất dầu hoan lạc mà Thiên Chúa đã xức cho chúng tôi, trong ngày chúng tôi lãnh nhận thánh chức linh mục và giám mục, lan tỏa sang cho anh chị em, để anh chị em được vui luôn trong niềm vui của Chúa. Xin Chúa chúc phúc cho tất cả anh chị em và ban cho anh chị em tràn đầy ơn lành, để anh chị em biết sống yêu thương và phục vụ những người thân cận, nhất là những con người khốn khổ, những ai cần đến anh chị em, kể cả những người chưa biết Chúa”. Trước khi ban phép lành cuối lễ, Đức Cha Phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam Phanxicô Xavier Lê Văn Hồng đã đại diện HĐGMVN có lời chúc mừng Đức Tân TGM; cha Tổng Đại diện GB. Huỳnh Công Minh phát biểu lời cảm ơn và những bó hoa tươi thắm, quà tặng được những giáo dân đại diện các thành phần dân Chúa trao tặng quí Đức Cha, làm cung thánh đã đẹp lại còn tươi thêm. Sau thánh lễ, người tham dự nhận một hộp bánh và một tiệc mừng thân mật được tổ chức tại Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn cho người có thiệp mời riêng. Giữa cái nắng chói chang của mùa khô, ai cũng có vẻ nóng nực nhưng hẳn mỗi người mang một tâm tình vui mà có một điểm chung là mong vị mục tử của mình khi đến với muôn dân thì đến bằng tình yêu thương và can đảm đón nhận sứ vụ, dù là nhiệm vụ có nhiều thách đố. Hôm nay, Đức Cha đại diện Tòa Thánh không phát biểu nhưng những ai quan tâm đến sự kiện Đức Tân TGM được đón về Sài Gòn nhận chức TGM phó lần trước, sẽ nhớ lại lời khen tặng của Đức Cha Đại diện Tòa Thánh dành cho Đức TGM phó trong ngày hôm đó: “...Tôi nghe nói Đức TGM phó là cầu nối giữa nhiều người, giữa nhiều thành phần xã hội khác nhau...mà Giáo Hội cần nhiều sự liên đới với nhau...”; như thế là đủ yên tâm cho các thành phần dân Chúa trong TGP hôm nay. Mẫu gương mới nhất của người vừa đón nhận chức quyền cao trọng trong Hội Thánh là Đức Thánh Cha Phanxicô, dù đón nhận quyền cao chức trọng nhưng Ngài vẫn làm cho cả thế giới ngạc nhiên về phong cách trong chức vụ mới. Hôm nay, chắc rằng người giáo dân Sài Gòn và các thành phần dân Chúa cũng mang một niềm vui và niềm hy vọng về người mục tử của mình.                    (Maria Vũ Loan; WTGP.Sài Gòn 24.04.2014)
Tiểu Sử Đức Thánh Cha Gioan XXIII   Gioan XXIII, sinh tại làng Sotto il Monte, thuộc tỉnh Bergamo, vào ngày 25.11.1881, con trai đầu của ông Giovanni Battista Roncalli và bà Marianna Mazzola. Ngay buổi chiều hôm đó, trẻ sơ sinh được rửa tội, lấy tên là  Angelo Giuseppe, người đỡ đầu là ông Zaverio Roncalli, một trong những người bác của ông bố Battista, rất đạo đức, ở độc thân, tự nhận lấy bổn phận dạy giáo lý cho nhiều đứa cháu. Sau này, Đức Gioan XXIII đã cảm động nhớ lại nhiều kỷ niệm và biết ơn về những lo lắng chăm sóc của ông. Ngay từ thời thơ ấu, đã có một khuynh hướng nghiêm chỉnh về đời sống Giáo Hội, nên sau khi học học bậc tiểu học, cậu chuẩn bị vào chủng viện giáo phận nhờ sự trợ giúp học thêm tiếng Ý và tiếng Latinh của một số linh mục trong khi theo học tại một trường có uy tín của Celana. Ngày 07.11.1892, cậu gia nhập chủng viện Bergamo, nơi đó cậu được xếp vào năm thứ ba của bậc trung học. Sau một khởi đầu khó khăn vì chưa được chuẩn bị đầy đủ, cậu tiến nhanh trong việc học tập và huấn luyện thiêng liêng, nhờ đó các bề trên đã chuẩn nhận trước khi kết thúc năm thứ mười bốn để thầy được lãnh nhận chức cắt tóc. Sau khi hoàn tất tốt đẹp năm thứ hai của thần học vào tháng Bảy năm 1900, thì vào tháng Giêng năm sau, thầy được gửi về Roma vào chủng viện Apollinare, nơi có một số học bổng cho hàng giáo sĩ thuộc giáo phận Bergamo. Tuy phải thi hành nghĩa vụ quân sự tại Bergamo từ ngày 30 Tháng 11 1901, việc huấn luyện chủng sinh cũng đặc biệt mang lại kết quả tốt đẹp. Ngày13 tháng 7 năm 1904, khi còn rất trẻ, mới hai mươi tuổi rưởi, thầy đậu tiến sĩ thần học. Với sự nhận xét đặc biệt của các bề trên, ngày 10 tháng Tám năm 1904, thầy được thụ phong linh mục trong nhà thờ Đức Maria di Monte Santo; ngài cử hành Thánh Lễ đầu tiên vào ngày hôm sau trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, dịp này ngài quyết tâm tận hiến hoàn toàn cho Chúa Kitô và hết lòng trung thành với Giáo Hội. Sau một thời gian ngắn về nghỉ tại quê nhà, vào tháng Mười, ngài bắt đầu theo học giáo luật tại Rôma, và rồi phải nghỉ học vào tháng Hai năm 1905, khi ngài được chọn làm thư ký của Giám Mục mới của giáo phận Bergamo, Đức cha Giacomo Radini Tedeschi. Mười năm làm việc hết mình bên cạnh một giám mục có thẩm quyền, rất năng động và đầy sáng kiến, giúp cho giáo phận Bergamo trở nên một mô hình cho Giáo Hội Ý. Ngoài nhiệm vụ thư ký, ngài còn kiêm nhiệm nhiều công việc khác. Từ năm 1906, ngài còn đảm nhiệm giảng dạy nhiều môn học trong chủng viện: lịch sử giáo hội, giáo phụ và biện giáo; từ 1910, ngài cũng phụ trách môn thần học cơ bản. Ngoại trừ khoảng thời gian ngắn ngưng nghỉ, ngài vẫn tiếp tục làm những công việc đó đến năm 1914. Việc học hỏi về lịch sử đã giúp ngài viết một số nghiên cứu lịch sử địa phương, như xuất bản những chuyến viếng thăm mục vụ của thánh Carlo Bergamo (1575), một nỗ lực trong nhiều thập kỷ dài và tiếp tục cho đến những ngày trước cuộc bầu cử Giáo Hoàng. Ngài cũng là chủ nhiệm tờ báo định kỳ của giáo phận “La Vita Diocesana" và kể từ năm 1910, ngài làm trợ úy cho Liên Hiệp những Phụ Nữ Công giáo. Cái chết bất ngờ của Đức Giám mục Radini năm 1914 chấm dứt một kinh nghiệm mục vụ tuyệt vời của ngài, mặc dù gặp một vài đau khổ chẳng hạn như những lời buộc tội vô căn cứ chống lại ngài từ chủ nghĩa hiện đại, vị Giáo Hoàng tương lai Gioan XXIII luôn xem như điểm quy chiếu chính qua các công việc được trao phó theo từng giai đoạn. Chiến tranh bùng nổ vào năm 1915, ngài làm tuyên úy hơn ba năm với cấp bậc trung sĩ với việc chăm sóc thương binh trong các bệnh viện ở Bergamo, và ngài đã có những việc làm rất anh hùng. Vào tháng Bảy năm 1918, ngài sẵn sàng phục vụ cho những người lính bị bệnh lao, dù biết rằng có nguy cơ bị lây nhiễm. Hoàn toàn bất ngờ với lời mời của Đức Giáo Hoàng về phụ trách công việc của Bộ Truyền Giáo tại Ý, trong khi ở Bergamo. ngài mới bắt đầu kinh nghiệm Nhà sinh viên, một nơi vừa nội trú, vừa học viện, và đồng thời ngài cũng làm linh hướng trong chủng viện. Sau nhiều do dự, ngài đã nhận lời và bắt đầu công việc cách thận trọng và tế nhị đối với những liên hệ với các tổ chức truyền giáo đã có. Ngài đã thực hiện một chuyến đi lâu dài ra ngoại quốc để thi hành kế hoạch của Tòa Thánh nhằm mang về Rôma những tổ chức khác nhau để hỗ trợ cho công cuộc truyền giáo và viếng thăm một số giáo phận Ý để quyên góp nguồn tài trợ và giải thích về công việc mà ngài đang phụ trách. Vào năm 1925, với sự bổ nhiệm làm Visitatore Apostolico tại Bulgaria, ngài đã bắt đầu giai đoạn phục vụ cho ngành ngoại giao của Tòa Thánh cho đến năm 1952. Sau lễ phong chức giám mục diễn ra tại Rome vào ngày 19 tháng 3 năm 1925, ngài khởi hành đi Bulgaria với nhiệm vụ giúp đỡ cho cộng đoàn Công giáo nhỏ bé và đang gặp nhiều khó khăn tại đó. Khởi đầu công việc và tiếp tục cả hàng chục năm, Đức cha Roncalli đã đặt nền móng cho việc thiết lập một Tông Tòa mà ngài đã được bổ nhiệm làm vị đại diện đầu tiên vào năm 1931. Tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng ngài đã tái tổ chức được Giáo Hội Công Giáo, phục hồi được mối quan hệ thân thiện với Chính phủ và Hoàng gia Bungari, mặc dù có đôi chút trở ngại vì đám cưới theo nghi lễ chính thống của vua Boris với công chúa Giovanna của hoàng gia Savoia, và đó cũng là dịp để khởi động những mối quan hệ đại kết đầu tiên với Giáo hội Chính thống Bungari. Vào ngày 27 tháng 11.1934, ngài được bổ nhiệm làm Khâm sứ Tòa Thánh tại Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp, các nước này chưa có quan hệ ngoại giao với Vatican. Khác với Hy Lạp, nơi mà đức Roncalli không mang lại một kết quả nào đáng kể, trái lại quan hệ với chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ dần dần có được một sự hiểu biết và sẵn sàng thể hiện được nhờ việc đón nhận những đường lối chính trị độc lập với tôn giáo của chính phủ. Với tính nhạy bén và năng động của mình, ngài đã tổ chức được một vài lần gặp gỡ chính thức với Đức Thượng Phụ Constantinople, đó là những lần đầu tiên sau nhiều thế kỷ tách biệt với Giáo Hội Công Giáo. Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, ngài đã giữ được một thái độ thận trọng của tính trung lập, nhờ vậy ngài mới thực hiện được một công việc thật hữu hiệu, là giúp cho cộng đoàn Do Thái, cả hàng ngàn người, khỏi bị diệt chủng, và giúp cho người Hy Lạp thoát khỏi nạn đói. Thật bất ngờ với quyết định của Đức Piô XII, ngài được bổ nhiệm về làm Khâm sứ tại Paris, nơi ngài đặt chân đến với nhiều lo lắng vào 30 tháng 12 năm 1944. Một hoàn cảnh khá phức tạp đang chờ đợi ngài. Chính phủ lâm thời đòi phải thoái vị ba mươi giám mục, bị buộc tội hợp tác với chính phủ Vichy. Nhờ sự bình tĩnh và linh động của vị tân sứ thần, chỉ có ba vị bị bãi nhiệm. Phẩm chất con người của ngài đã mang lại sự kính nễ trong bối cảnh ngoại giao và chính trị tại Paris, nơi mà Ngài đã thiết lập được những mối quan hệ thân thiện với một số chính khách của chính phủ Pháp. Hoạt động ngoại giao của ngài cũng mang một ý nghĩa mục vụ rõ ràng qua các lần viếng thăm tại nhiều giáo phận của nước Pháp, kể cả nước Algeria. Tiếng vang và lòng nhiệt thành tông đồ của Giáo Hội Pháp, qua kinh nghiệm của các linh mục thợ, làm cho Đức Roncalli phải chú ý như một nhà quan sát thận trọng và khôn ngoan, ngài cho rằng cần phải có một thời gian để xem xét trước khi có quyết định dứt khoát. Với lối sống vâng phục của mình, ngài đã sẵn sàng vâng theo lời đề nghị thuyên chuyển về Venice, nơi ngài đã đến nhậm chức vào ngày 5 tháng 3 năm 1953, lúc mới được nâng lên tước vị hồng y theo quyết định trong Công Nghị cuối cùng của Đức Piô XII. Thời gian làm giám mục của ngài được mọi người biết đến qua những nỗ lực làm việc và hoàn thành nhiệm vụ giám mục cách tốt đẹp như thăm viếng mục vụ và cử hành Công Nghị giáo phận. Việc ôn lại lịch sử tôn giáo của Venezia giúp ngài thêm những sáng kiến mục vụ mới, chẳng hạn như kế hoạch làm cho các tín hữu gần gũi với Kinh Thánh, làm việc theo gương của vị giáo chủ kỳ cựu, thánh Lorenzo Giustiniani, mà ngài đã long trọng cử hành việc tưởng nhớ trong năm 1956. Việc bầu một vị Giáo Hoàng bảy mươi bảy tuổi vào ngày 28 tháng 10.1958, đó là Đức Hồng Y Roncalli, kế vị Đức Piô XII, làm nhiều người nghĩ rằng đây chỉ là một triều đại chuyển tiếp. Nhưng ngay từ đầu, Đức Gioan XXIII đã chứng tỏ một lối sống đầy nhân bản và con người linh mục của mình đã chín muồi qua những kinh nghiệm ý nghĩa. Ngoài việc khôi phục lại các hoạt động đúng đắn trong các cơ quan của giáo triều, ngài còn hết lòng cho công việc mục vụ theo sứ mạng của mình, bằng cách nhấn mạnh đến bản chất giám mục với tư cách là Giám Mục Rôma. Xác tín rằng việc quan tâm trực tiếp đến giáo phận là một phần thiết yếu của Sự Vụ Giáo Hoàng, nên ngài dành nhiều thời gian gặp gỡ các tín hữu qua việc viếng thăm các giáo xứ, bệnh viện và nhà tù. Qua việc triệu tập Công Nghị giáo phận, ngài muốn bảo đảm chức năng hoạt động của các cơ cấu giáo phận bằng cách tăng cường các Giáo Hạt và bình thường hóa đời sống giáo xứ. Sự đóng góp lớn nhất của Đức Gioan XXIII, chắc chắn là việc triệu tập Công Đồng Vatican II, được loan báo trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô vào ngày 25 tháng 01.1959. Đó là một quyết định mang tính cách cá nhân của Đức Giáo Hoàng sau khi tham khảo ý kiến với một số vị thân cận và với vị Quốc Vụ Khanh, là Đức Hồng Y Tardini. Các mục tiêu ban đầu của Công Đồng được nêu rõ trong bài phát biểu vào lễ khai mạc ngày 11 tháng mười năm 1962: không phải là để xác định những chân lý mới, nhưng để xác định lại các học thuyết truyền thống phù hợp hơn với sự nhạy cảm hiện thời. Trong chiều hướng nhằm có được một sự cập nhật về tất cả đời sống của Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã mời gọi hướng về lòng thương xót và ủng hộ việc đối thoại với thế giới, hơn là lên án và phản đối trong một nhận thức mới về sứ mệnh của Giáo Hội, đón nhận tất cả mọi người. Trong tinh thần cởi mở phổ quát ấy, không thể loại trừ các giáo hội Kitô khác, họ cũng được mời tham dự vào Công Đồng để khởi đầu một tiến trình xích lại gần nhau hơn. Trong giai đoạn đầu tiên, người ta có thể nhận thấy rằng Đức Gioan XXIII muốn một Công Đồng có tranh luận thật sự, biết tôn trọng các quyết định sau khi mọi tiếng nói đã được trình bày và thảo luận. Vào mùa xuân năm 1963, ngài được trao giải thưởng “Balzan” về hòa bình, chứng tỏ những việc làm của ngài đối với hòa bình qua việc ban hành Thông điệp Mater et Magistra (1961) và Pacem in Terris (1963), cũng như việc nhất quyết can thiệp của ngài nhân cuộc khủng hoảng tại Cuba vào mùa thu năm 1962. Uy tín và sự ngưỡng mộ chung, người ta có thể thấy được trong những tuần lễ cuối đời ngài khi cả thế giới đều lo lắng hướng về quanh ngài lúc hấp hối và đau buồn nhận tin ngài qua đời vào tối ngày 03 tháng 06 năm 1963.     Phòng Báo Chí Tòa Thánh Linh mục Augustinô chuyển ngữ  
Tiểu Sử Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II   Karol Józef Wojtyła, lấy danh hiệu Giáo Hoàng là Gioan-Phaolô II sau cuộc bầu chọn ngày 16.10.1978, sinh ngày 18.05.1920 tại Wadowice, một thành phố cách Kraków (Ba Lan) chừng 50 km. Ngài là người con út trong 3 người con của ông Karol Wojtyła và bà Emilia Kaczorowska, qua đời vào năm 1929. Người anh cả của ngài là Edmund, bác sĩ, qua đời năm 1932 và thân sinh của Ngài, một sĩ qua quân đội qua đời vào năm 1941. Trong khi chị của Ngài, Olga, qua đời trước khi Ngài được sinh ra. Được rửa tội vào ngày 20.06.1920 tại nhà thờ giáo xứ Wadowice do cha Franciszek Zak; rước Lễ lần đầu lúc 9 tuổi và lãnh nhận bí tích Thêm Sức lúc 18 tuổi. Sau khi học hết chương trình trung học tại Marcin Wadowita, Wadowice, năm 1938, cậu ghi danh vào Đại Học Jagellónica, Cracovia. Khi quân xâm lược naziste đóng cửa trường Đại học vào năm 1939, cậu Karol làm việc (1940-1944) trong một hầm mỏ, và sau đó, trong một nhà máy hóa chất Solvay để kiếm sống và tránh bị đưa vào các trại tập trung bên nước Đức. Từ năm 1942, cảm thấy mình có ơn gọi làm linh mục, cậu bắt đầu theo học tại Đại Chủng Viện chui tại Cracovia dưới sự hướng dẫn của chính Tổng Giám Mục Cracovia, ĐHY Adam Stefan Sapieha. Trong thời gian đó, thầy cũng là một trong những người tổ chức “Kịch Nghệ Rapsodico”, cũng dưới hình thức chui. Sau khi chiến tranh kết thúc, thầy tiếp tục theo học trong Đại Chủng Viện Cracovia mới được mở cửa lại, và tại Phân Khoa Thần Học của Viện Đại Học Jagellónica, cho đến khi chịu chức linh mục tại Cracovia vào ngày 11.11.1946, do sự đặt tay của Đức Tổng Giám Mục Sapieha. Sau đó, ngài được gởi qua Roma để theo học dưới sự hướng dẫn của cha Dòng Đa Minh người Pháp, cha Garrigou-Lagrange, và vào năm 1948, ngài đậu tiến sĩ thần học với luận án: “Đức tin trong các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá” (Doctrina de fide apud Sanctum Ioannem a Cruce). Trong thời gian này, vào các kỳ nghỉ hè, ngài thường làm việc mục vụ cho người Ba Lan tại Pháp, Bỉ và Hòa Lan. Vào năm 1948, ngài trở về Ba Lan, lúc đầu làm phó xứ Niegowić, gần Cracovia, và sau đó, làm phó xứ Thánh Floriano, trong thành phố. Đồng thời, ngài cũng làm tuyên úy sinh viên cho đến năm 1951, vừa theo học triết học và thần học. Vào năm 1953, ngài trình luận án tại Đại Học Công Giáo Lublino với đề tài: “Thẩm định khả năng thiết lập một nền luân lý Ki-tô từ hệ thống luân lý của Max Scheler”. Sau đó, ngài trở thành giáo sư Thần Học Luân Lý trong Đại Chủng Viện Cracovia và tại Phân Khoa Thần Học Lublino. Ngày 04.07.1958, Đức Giáo Hoàng Piô XII đặt ngài làm giám mục hiệu tòa Ombi và giám mục phụ tá Cracovia. Ngài được thụ phong giám mục vào ngày 28.09.1958 tại nhà thờ chánh tòa Wawel (Cracovia), do sự đặt tay của Đức Tổng Giám Mục Eugeniusz Baziak. Ngày 13.01.1964, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đặt ngài làm Tổng Giám Mục Cracovia và rồi đề cử ngài lên tước vị Hồng Y vào ngày 26..06.1967. Ngài tham dự Công Đồng Vaticano II (1962-1965) với sự đóng góp quan trọng trong việc soạn thảo Hiến Chế Gaudium et Spes. Với tư cách Hồng Y, ngài cũng là thành viên trong 5 Thượng Hội Đồng Giám Mục trước khi trở thành Giáo Hoàng. Các Hồng Y đã bầu chọn ngài làm Giáo Hoàng vào ngày 16.10.1978. Ngài đã chọn danh hiệu là Gioan-Phaolô II và ngày 22.10, ngài đã long trọng khởi đầu tác vụ Thánh Phêrô. Ngài là Đấng Kế Vị thứ 263. Triều đại của ngài là một trong những triều đại lâu dài nhất trong lịch sử của Giáo Hội và kéo dài đến 27 năm. Đức Gioan-Phaolô II đã thi hành sứ vụ của mình với tinh thần truyền giáo không mệt mỏi, dồn mọi nỗ lực lo lắng việc mục vụ đối với mọi Giáo Hội và đức ái mục tử mở ra cho toàn thể nhân loại. Ngài đã thực hiện 104 chuyến đi trên toàn thế giới và 146 cuộc viếng thăm mục vụ tại nước Ý. Với tư cách là giám mục Roma, ngài đã thăm 317 giáo xứ (trên 333 giáo xứ). Hơn mọi Vị Tiền Nhiệm khác, ngài đã gặp gỡ Dân Chúa và các Nhà Lãnh Đạo của nhiều Dân Nước: Các buổi Triều Yết vào ngày Thứ Tư hằng tuần (1166 lần trong suốt Triều Đại của ngài) đã có hơn 17 triệu 600 ngàn khách hành hương tham dự, đó là chưa kể đến những buổi Triều Yết đặc biệt và các Nghi Lễ Tôn Giáo (có hơn 8 triệu khách hành hương chỉ trong Đại Năm Thánh 2000), cũng chưa kể đến hàng triệu tín hữu mà ngài đã gặp gỡ trong các cuộc viếng thăm mục vụ tại Ý, cũng như trên khắp thế giới. Rất nhiều nhân vật chính trị mà ngài đã tiếp qua các buổi Triều Yết: chỉ cần nhớ đến 38 lần viếng thăm chính thức và 738 lần Triều Yết hoặc gặp gỡ với các Vị Nguyên Thủ Quốc Gia, cũng như 246 buổi Triều Yết và gặp gỡ với các Vị Thủ Tướng Chính Phủ. Lòng yêu mến đối với các bạn trẻ đã hối thúc ngài thành lập những Ngày Giới Trẻ Thế Giới kể từ năm 1985. 19 cuộc Họp Mặt GMG đã diễn ra dước Triều Đại của ngài đã qui tụ hàng triệu bạn trẻ trên khắp thế giới. Cũng như ngài đã hết lòng quan tâm đến Gia Đình và đã tổ chức những Đại Hội Gia Đình Thế Giới từ năm 1994. Đức Gioan-Phaolo II phát huy thành công trong việc đối thoại với người Do Thái và đại diện của các tôn giáo, bằng việc mời gọi họ đến những Cuộc Gặp Gỡ Cầu Nguyện cho Hòa Bình, cách đặc biệt tại Assisi. Dưới sự hướng dẫn của ngài, Giáo Hội tiến về ngàn năm thứ ba và đã cử hành Đại Năm Thánh 2000, theo những đường nét đã được trình bày trong Tông Thư Tertio millennio adveniente. Và rồi Giáo Hội đối đầu với thời đại mới, lại được lãnh nhận những chỉ dẫn trong Tông Thư Novo millennio ineunte, trong đó, ngài cho các tín hữu thấy hành trình của thời tương lai. Với các Năm Thánh Cứu Độ, Năm Thánh Mẫu, Năm Thánh Thể, Đức Gioan- Phaolô II đã phát huy việc canh tân đời sống thiêng liêng của Giáo Hội. Ngài cũng đã tiến hành nhiều cuộc phong thánh và chân phước để đưa ra nhiều tấm gương thánh thiện cho con người thời đại hôm nay: Ngài đã cử hành 147 buổi lễ phong chân phước, gồm 1338 vị và 51 cuộc lễ phong thánh, gồm 482 vị thánh. Ngài cũng đã tuyên phong Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu làm Tiến Sĩ Giáo Hội. Ngài đã mở rộng con số của Hồng Y Đoàn, tấn phong đến 231 trong 9 mật nghi (1 ẩn danh và cũng không được nêu lên trước khi ngài qua đời). Ngài cũng triệu tập 6 Công Nghị của Hồng Y Đoàn. Ngài đã chủ tọa 15 Thượng Hội Đồng Giám Mục: 6 thông thường (1980, 1983, 1987, 1990, 1994 và 2001), 1 Thượng Hội Đồng bất thường (1985) và 8 Thượng Hội Đồng đặc biệt (1980, 1991, 1994, 1995, 1997, 1998 [2] và 1999). Ngài ban hành 14 Thông Điệp, 15 Tông Huấn, 11 Tông Hiến và 45 Tông Thư. Ngài cũng đã ban hành cuốn Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, dưới ánh sáng của Truyền Thống, đã được Công Đồng Vaticano II giải thích cách có thẩm quyền. Ngài đã sửa đổi Bộ Giáo Luật Tây Phương và Đông Phương, cũng như đã thiết lập thêm các cơ chế mới và cải tổ Giáo Triều Roma. Đức Gioan-Phao-lô II, như một Tiến Sĩ, đã xuất bản 5 cuốn sách: “Bước qua ngưỡng cửa Hy Vọng” (tháng 10.1994); “Hồng Ân và Mầu Nhiệm: kỷ niệm 50 linh mục” (tháng 11.1996); “Trittico romano”, những bài suy niệm dưới hình thức thơ văn (tháng 3.2003); “Hãy đứng dậy, chúng ta cùng đi!” (tháng 5.2004); “Ký ức và Căn Tính” (tháng 2.2005). Ngài qua đời tại Vaticano ngày 02.04.2005, lúc 21.37, lúc gần hết ngày thứ bảy và đã bước vào Ngày của Chúa, trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh và cũng là Ngày Chúa Nhật Lễ Lòng Chúa Thương Xót. Từ chiều hôm ấy cho đến lễ an táng của ngài vào ngày 08.04, đã có hơn ba triệu khách hành hương đến Roma để kính viếng ngài, dù phải xếp hàng chờ đợi cả 24 giờ mới có thể vào được bên trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô. Ngày 28.04 sau đó, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã miễn chuẩn thời gian chờ đợi 5 năm sau ngày qua đời để khởi sự thủ tục phong chân phước và phong thánh cho Đức Gioan-Phao-lô II. Thủ tục này đã được chính thức khai mở vào ngày 28.06 2005 do Đức Hồng Y Camillo Ruini, Tổng Đại Diện coi sóc giáo phận Roma.      Phòng Báo Chí Tòa Thánh Linh mục Augustinô chuyển ngữ
Bài giảng của Cha Raniero Cantalamessa trước ĐTC và Giáo Triều Rôma ngày Thứ Sáu Tuần Thánh 18/04/2014   “Giuđa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ” (Ga 18:5) Lịch sử Thiên Chúa – loài người trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu bao gồm nhiều câu chuyện nhỏ về những người nam nữ tham gia vào những mảng sáng, tối của biến cố này. Câu chuyện bi thảm nhất là câu chuyện của Giuđa Iscariot. Đây là một trong số ít các sự kiện được đề cập với cùng một mức nhấn mạnh như nhau bởi cả bốn sách Phúc Âm và phần còn lại của Tân Ước. Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã suy tư rất nhiều về sự kiện này và chúng ta thật là bất cẩn nếu không làm như thế. Câu chuyện này có nhiều điều để nói với chúng ta. Giuđa đã được lựa chọn ngay từ đầu trong Nhóm Mười Hai. Khi đưa tên ông ta vào trong danh sách các tông đồ, Thánh Sử Luca viết "Giuđa Iscariot, người trở thành (egeneto) một kẻ phản bội" (Lc 6:16). Như thế, Giuđa đã không phải là một kẻ phản bội từ lúc lọt lòng mẹ, và cũng chẳng phải là một kẻ phản bội lúc Chúa Giêsu chọn ông; sau này ông mới trở thành một kẻ phản bội! Chúng ta đang đứng trước một trong những thảm kịch bi đát nhất của tự do con người. Tại sao anh ta trở thành một kẻ phản bội? Cách đây không lâu , khi luận đề về "Chúa Giêsu cách mạng" đang cuốn hút nhiều người, người ta cố gắng để gán cho hành động phản bội của Giuđa những động cơ mang tính lý tưởng. Có người nhìn thấy trong tên của ông ta "Iscariot" một chút biến tướng của từ sicariot, nghĩa là anh ta thuộc về một nhóm cuồng tín cực đoan chuyên sử dụng một loại dao găm (sica) để chống lại người La Mã. Lại có những người khác nghĩ rằng Giuđa đã thất vọng với Chúa Giêsu về cách Ngài trình bày "vương quốc Thiên Chúa" và muốn buộc Ngài ra tay hành động chống lại các dân ngoại cả trên bình diện chính trị. Đây là Giuđa của vở nhạc kịch nổi tiếng Jesus Christ Superstar và của những bộ phim và tiểu thuyết khác được chào đời gần đây - một Giuđa giống như một kẻ nổi tiếng đã phản bội ân nhân mình, là Brutus, người đã giết Julius Caesar để cứu nền Cộng hòa La Mã! {youtube}-X9Wu4uK9u4{/youtube} Đây là những tái tạo lại câu chuyện phải được tôn trọng nếu như chúng có giá trị văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, chúng không có bất kỳ cơ sở lịch sử nào. Những sách Phúc Âm là các nguồn đáng tin cậy duy nhất mà chúng ta có về nhân vật Giuđa đều đồng thanh nói về một động cơ rất trần tục: đó là tiền. Giuđa đã được giao phó giữ tiền của nhóm; khi bà Maria Mađalêna xức dầu thơm cho Chúa tại Bethany, Giuđa đã phản đối việc dùng dầu thơm quý giá để đổ lên chân Chúa không phải vì ông quan tâm đến người nghèo nhưng, như thánh Gioan lưu ý , "vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung."(Ga 12:6 ). Đề nghị của ông với các thượng tế thật là rõ ràng: ‘Các ông định cho tôi bao nhiêu, nếu tôi giao nạp Người cho các ông? Và các thượng tế ấn định số tiền là 30 đồng bạc’” (Mt 26,15). Nhưng tại sao người ta lại ngạc nhiên trước lời giải thích này, câu trả lời hiển nhiên quá mà? Chẳng phải chuyện như thế vẫn luôn xảy ra trong lịch sử và vẫn xảy ra ngày hôm nay sao? Mammon, thần tài, không chỉ là một ngẫu tượng trong số rất nhiều những ngẫu tượng: nhưng đó là thứ ngẫu tượng trỗi vượt nhất, đó là thứ "thần được người ta đúc lên" (xem Xh 34:17 ) Và chúng ta biết lý do tại sao. Khách quan mà nói ai là kẻ thù thực sự, là đối thủ của Thiên Chúa trong thế giới này? Không phải Satan sao? Chẳng ai quyết định phụng sự Satan mà không có một động cơ . Bất cứ ai quyết định làm như vậy đều tin rằng họ sẽ có được một số quyền thế hoặc lợi ích trần tục nào đó từ hắn ta. Ngoài Thiên Chúa ra, một số người lại có một ông chủ khác đối nghịch với Thiên Chúa, Chúa Giêsu nói với chúng ta rõ ràng người chủ khác ấy là ai: "Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được "(Mt 6:24 ). Tiền của là thứ “thần có thể nhìn thấy được” trái ngược với Thiên Chúa là Đấng vô hình. Thần tài chống lại Thiên Chúa vì nó tạo ra nơi con người một vũ trụ tinh thần khác; nó thay đổi mục đích của nhân đức đối thần. Đức tin, hy vọng và lòng bác ái không còn được đặt vào Thiên Chúa nhưng vào tiền. Một đảo ngược nham hiểm của tất cả các giá trị xảy ra. Kinh Thánh nói: " Cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin " (Mc 9:23), nhưng thế gian nói: "Có tiền mua tiên cũng được." Và trên một bình diện nhất định, mọi thứ dường như là như thế thật. Kinh Thánh nói: "Lòng yêu mến tiền bạc là căn nguyên của mọi tội lỗi" (1 Tim 6:10). Đằng sau mọi sự dữ trong xã hội của chúng ta là tiền bạc, hay ít nhất cũng có dính líu đến tiền. Chúng ta nhớ lại trong Kinh Thánh câu chuyện các thanh niên nam nữ đã phải hy sinh cho thần Mo-lóc (x. Gr 32:35 ) hay câu chuyện thần Aztec mà hàng ngày một số lượng nhất định dân chúng bị giết để lấy tim dâng lên thần . Những gì nằm phía sau nạn buôn bán ma túy phá hủy rất nhiều cuộc sống của con người, đằng sau hiện tượng mafia, đằng sau việc tham nhũng của các chính trị gia, đằng sau việc sản xuất và bán các loại vũ khí, và thậm chí đằng sau một điều thật khủng khiếp - khi phải đề cập đến - là việc bán nội tạng con người lấy từ trẻ em? Và còn cuộc khủng hoảng tài chính mà thế giới đã và đang trải qua cũng như đất nước này vẫn còn đang gánh chịu, không phải phần lớn là do “sự ham hố tiền của đáng nguyền rủa” của một số người sao? Giuđa đã bắt đầu nhón khỏi ví chung cuả cả nhóm. Còn một số các quản trị viên công quỹ thì sao? Tuy nhiên, bên cạnh những tội phạm hình sự để có tiền, còn có cả những xì căng đan trong đó một số người kiếm được tiền lương và hưu trí đôi khi cao hơn so với những người làm việc cho họ 100 lần và họ ồn ào phản đối khi một đề nghị được đưa ra để giảm tiền lương của họ ngõ hầu xã hội có thể công bằng hơn? Trong những thập niên 1970 và 1980, tại Ý, để giải thích cho những thay đổi chính trị bất ngờ, những hành xử quyền lực bí ẩn, khủng bố, và tất cả các loại bí ẩn gây phiền hà cho cuộc sống dân sự, người ta bắt đầu đề cập đến ý tưởng bán thần thoại về sự tồn tại của một "Bố Già", một nhân vật quỷ quyệt và quyền thế là kẻ đứng sau hậu trường giật dây cho tất cả mọi chuyện để đạt đến những mục tiêu chỉ mình hắn ta biết mà thôi. “Bố Già” quyền uy ngất ngưởng này thực sự tồn tại và chẳng phải là một huyền thoại đâu. Tên hắn ta là tiền! Giống như tất cả các ngẫu tượng khác, thần tài quỷ quyệt gian ngoa: nó hứa hẹn an ninh nhưng thay vào đó nó lấy đi; nó hứa hẹn tự do nhưng thực tế lại phá hủy tự do. Thánh Phanxicô Assisi , với một mức độ nghiêm khắc không thường thấy nơi ngài, đã mô tả giờ phút kết thúc cuộc đời của một người đã sống chỉ để làm tăng “vốn liếng” của mình. Khi gần chết ông ta mời linh mục đến. Vị linh mục hỏi người sắp chết, "Ông có muốn được tha thứ tất cả tội lỗi của ông không?" Và ông trả lời: "Thưa có." Linh mục hỏi tiếp: "Ông có sẵn sàng để sửa chữa những sai lầm ông đã gây ra, khôi phục lại những thứ ông đã lừa đảo của những người khác không? "người đàn ông sắp chết thều thào trả lời: "không, không thể được." "Tại sao lại không thể được?" "Bởi vì tôi đã giao phó mọi sự trong tay của người thân và bạn bè của tôi.". Như thế, ông ta chết đi mà không ăn năn hối cải, và trong khi thi hài ông bắt đầu lạnh dần người thân và bạn bè của ông tụ họp lại bên cạnh. Họ nói, "Thằng chết tiệt này! Lẽ ra nó nên kiếm nhiều tiền hơn để lại cho chúng ta mới phải chứ." Bao nhiêu lần trong thời buổi này chúng ta lẽ ra phải suy nghĩ lại một lần nữa tiếng Chúa Giêsu kêu lên với người phú hộ trong dụ ngôn về người cứ lo thu tóm của cải bất tận và nghĩ rằng phần còn lại của cuộc đời mình sẽ được an toàn: "Đồ ngu! Nội đêm nay, mạng ngươi bị đòi lại, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? "(Lc 12:20) Những người có quyền chức tham ô đến nỗi hết nhớ nổi ngân hàng nào, thiên đường tài chính nào tàng trữ bao nhiêu tiền tham nhũng của mình đã nhận ra bản thân mình đang bị xét xử tại tòa án hoặc tại một nhà tù đúng ngay vào lúc họ tự nhủ với lòng mình: "Yên tâm mà hưởng đi, hồn tôi ơi." Họ làm điều đó cho ai? Nó có đáng không? Phải chăng họ làm như thế vì lợi ích của con em và gia đình của họ, hoặc đảng phái của họ, nếu thực sự họ nghĩ như thế? Hay là chỉ hủy hoại bản thân và những người khác? Sự phản bội của Giuđa vẫn tiếp tục xuyên suốt trong lịch sử, và người bị phản bội luôn luôn là Chúa Giêsu. Giuđa bán Đầu [ý chỉ Chúa Giêsu – chú thích của người dịch], trong khi những kẻ bắt chước ông bán phần thân mình, vì người nghèo là chi thể của nhiệm thể Chúa Kitô, cho dù họ biết điều đó hay không. "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy " (Mt 25:40 ) . Tuy nhiên , sự phản bội của Giuđa không chỉ tiếp tục trong phạm vi các nhân vật cao cấp các loại mà tôi vừa đề cập. Thật là an ủi cho chúng ta nếu được như thế, nhưng không phải vậy đâu. Bài giảng mà cha Primo Mazzolari vào Thứ Năm Tuần Thánh năm 1958, về "Anh Giuđa của chúng ta" vẫn còn rất nổi tiếng. Ngài nói với vài giáo dân ngồi trước mặt ngài, "Hãy để tôi suy nghĩ về cái tên Giuđa trong người tôi đây một lúc, về cái tên Giuđa, có lẽ cũng có cả bên trong anh chị em. " Người ta có thể phản bội Chúa Giêsu để đổi lấy những thứ khác hơn là 30 đồng bạc. Một người đàn ông phản bội vợ mình, hoặc người vợ phản bội chồng, là phản bội Chúa Kitô. Các thừa tác viên của Chúa không trung thành với đấng bậc của mình trong cuộc sống, hoặc thay vì nuôi dưỡng những con chiên được giao phó cho ngài lại dùng những con chiên ấy như nguồn vỗ béo cho chính mình, là phản bội Chúa Giêsu. Bất cứ ai phản bội lương tâm của họ đều phản bội Chúa Giêsu. Thậm chí tôi có thể phản bội Ngài ngay lúc này đây- và điều này làm cho tôi run sợ - nếu như trong khi giảng về Giuđa tôi quan tâm đến sự đồng thuận của khán giả hơn là dự phần trong nỗi buồn bao la của Đấng Cứu Thế . Có một trường hợp giảm khinh trong trường hợp của Giuđa mà tôi không có. Ông ta không biết Chúa Giêsu là ai và chỉ coi Ngài là "một người công chính"; ông không biết rõ như chúng ta rằng Ngài là Con Thiên Chúa! Mỗi năm khi Mùa Phục Sinh đến gần, tôi đều muốn nghe lại bản "Cuộc thương khó Chúa Kitô theo Thánh Matthêu" của Bach. Nó bao gồm một chi tiết khiến tôi rùng mình mỗi lần. “Ðang bữa ăn, Người nói: Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy” (Mt 26:21). Khi Chúa Giêsu thông báo như thế, tất cả các tông đồ đều hỏi Chúa Giêsu : "Có phải con không, thưa Thầy?" Trước khi chúng ta nghe câu trả lời của Chúa Kitô , nhà soạn nhạc - xóa đi khoảng cách giữa biến cố và việc tưởng niệm biến cố ấy - thêm vào một hợp xướng bắt đầu như thế này: "Đó là con; Con là kẻ phản bội! Con cần phải đền bù tội lỗi con." Giống như tất cả các hợp xướng thánh ca trong tác phẩm âm nhạc này, nó thể hiện tình cảm của những người đang lắng nghe. Nó cũng là một lời mời gọi chúng ta xưng thú tội lỗi mình. Tin Mừng mô tả cái kết cục khủng khiếp của Giuđa: "Bấy giờ, Giuđa, kẻ nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận. Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục mà nói: "Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan". Nhưng họ đáp: ‘Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh!’ Giuđa ném số bạc vào Ðền Thờ rồi lui ra và đi thắt cổ" (Mt 27:3-5). Nhưng chúng ta không nên đưa ra một phán quyết vội vàng ở đây. Chúa Giêsu không bao giờ bỏ rơi Giuđa, và không ai biết, sau khi ông treo mình lên cây với một sợi dây thừng quanh cổ, ông ta sẽ đi về đâu: trong tay của Satan hay trong bàn tay của Thiên Chúa. Ai có thể biết được điều gì đã loé lên trong tâm hồn ông trong những giây phút cuối cùng này? “Bạn” là từ cuối cùng mà Chúa Giêsu gọi ông, và ông không thể quên được, cũng giống như ông không thể quên ánh mắt của Chúa Giêsu nhìn ông. Đúng là khi nói chuyện với Chúa Cha về các môn đệ của Ngài, Chúa Giêsu đã nói về Giuđa, “không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng”(Ga 17:12) . Nhưng ở đây, như trong rất nhiều trường hợp khác, Ngài đang nói từ quan điểm của thời gian và không phải vĩnh hằng. Tầm cỡ của sự phản bội này tự mình đã đủ, không cần phải tính đến sự thất bại đó là vĩnh cửu để giải thích một bản án đáng sợ khác nói về Giuđa: “Ðã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!” (Mc 14 : 21). Số phận đời đời của một con người là một bí mật bất khả xâm phạm được gìn giữ bởi Thiên Chúa. Giáo Hội bảo đảm với chúng ta rằng một người nam hay một người nữ được công bố là một vị thánh đang được nếm hưởng niềm hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng Giáo Hội không biết chắc chắn rằng một người cụ thể nào đó đã phải sa hoả ngục hay không. Dante Alighieri, là một nhà thơ, là người đã đặt Giuđa trong tầng cuối cùng sâu nhất của địa ngục trong tác phẩm Divine Comedy của mình, đã kể về việc hoán cải vào giờ phút cuối cùng của Manfred, con trai Hoàng Đế Frederick II và là vua xứ Sicily, người mà tất cả mọi người vào thời điểm đó đều coi y là đáng nguyền rủa vì ông đã chết trong vạ tuyệt thông. Bị thương chí mạng trong một trận chiến, Manfred tâm sự với nhà thơ rằng vào thời điểm cuối cùng của cuộc đời mình, " ... trong than khóc, tôi đã phó linh hồn tôi cho Đấng đã sẵn sàng tha thứ" và ông đã gửi một tin nhắn từ Luyện Ngục về trái đất mà ngày nay vẫn còn có liên quan tới chúng ta: Khủng khiếp là bản chất của tội lỗi tôi, nhưng lòng thương xót vô biên mở rộng vòng tay của mình cho bất kỳ người nào tìm kiếm nó. Đây là điều mà câu chuyện về người anh em Giuđa của chúng ta nên khiến chúng ta phải làm: ấy là sấp mình trước Đấng sẵn lòng tha thứ cho chúng ta cách nhưng không, là ném mình tương tự như vậy vào cánh tay đang dang ra của Đấng chịu đóng đinh. Điều quan trọng nhất trong câu chuyện của Giuđa không phải là sự phản bội của ông ta nhưng là phản ứng của Chúa Giêsu đối với ông. Ngài biết rõ những gì đã phát triển trong trái tim người môn đệ mình, nhưng Ngài không phơi bày ra; Ngài muốn cho Giuđa cơ hội cho tới tận phút cuối cùng để quay trở lại, và gần như che chắn cho anh ta. Ngài biết lý do tại sao Giuđa đến vườn ô liu, nhưng Ngài không từ chối nụ hôn lạnh lùng của y và thậm chí còn gọi y là "bạn" (xem Mt 26:50 ). Ngài đã tìm ra Phêrô sau khi chối Chúa để tha thứ cho ông, vì vậy Ngài có thể đã tìm ra Giuđa tại chỗ nào đó trên đường lên núi Sọ! Khi Chúa Giêsu cầu nguyện từ trên thập giá: "Lạy Cha, xin tha cho chúng; vì chúng không biết việc chúng làm "(Lc 23:34) , Chúa chắc chắn không loại trừ Giuđa trong số những người mà Ngài cầu nguyện cho. Vì vậy, những gì chúng ta sẽ làm là gì? Ai là người mà chúng ta nên noi theo, Giuđa hay Phêrô? Phêrô đã hối hận vì những gì ông đã làm, nhưng chẳng phải Giuđa cũng đã hối hận đến mức bật khóc sao? "Tôi đã phản bội máu người vô tội!" Và ông đã trả lại ba mươi đồng bạc. Vậy đâu là sự khác biệt? Chỉ là một điều này thôi: đó là Phêrô thì tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa Kitô, còn Giuđa thì không! Tội lỗi lớn nhất của Giuđa không phải là phản bội Chúa Kitô nhưng là đã nghi ngờ lòng thương xót vô biên của Ngài. Nếu chúng ta đã bắt chước Giuđa ít nhiều trong sự phản bội của ông, chúng ta đừng bắt chước ông trong sự thiếu niềm tin vào sự tha thứ. Có một bí tích mà qua đó chúng ta có thể kinh nghiệm chắc chắn về lòng thương xót của Chúa Kitô: đó là bí tích hòa giải. Bí tích này tuyệt vời là ngần nào! Thật là ngọt ngào để cảm nghiệm về Chúa Giêsu là Thầy, là Chúa , nhưng thậm chí còn ngọt ngào hơn để cảm nghiệm Ngài là Đấng Cứu Thế, là Đấng lôi anh chị em ra khỏi vực thẳm, như Ngài đã kéo Phêrô khỏi chìm xuống biển, để cảm nghiệm Ngài là Đấng đã chạm vào anh chị em như Ngài đã làm với người bị bệnh phong, và nói với anh chị em, “Tôi muốn, anh sạch đi” (Mt 8:3) . Bí tích Hòa Giải cho chúng ta cảm nghiệm chính bản thân mình những gì Giáo Hội nói về tội lỗi của A Dong vào đêm Phục Sinh trong bài "Vinh Tụng Ca": "Ôi tội hồng phúc vì đã đem đến một Đấng Cứu Chuộc vĩ đại và vinh quang" Chúa Giêsu biết làm thế nào để lấy đi tất cả tội lỗi của chúng ta, khi chúng ta có lòng ăn năn, và làm cho những tội lỗi này thành "tội hồng phúc", những tội lỗi đó sẽ không còn được nhớ đến, chúng chỉ là dịp để chúng ta cảm nghiệm lòng thương xót và sự dịu dàng của Thiên Chúa. Tôi có một mong muốn cho bản thân mình và cho tất cả những người cha, người anh, người chị, người em đáng kính: đó là cầu xin cho vào sáng Phục Sinh, chúng ta có thể thức giấc và để cho những lời của một người cải đạo vĩ đại trong thời hiện đại là Paul Claudel, vang vọng trong trái tim của chúng ta. Thiên Chúa của con, con đã được hồi sinh, và con sống với Chúa một lần nữa! Con đang mê ngủ, duỗi thẳng tứ chi như một người đã chết trong đêm. Chúa nói: " Hãy có ánh sáng!" Và con tỉnh dậy òa khóc! Cha của con, Chúa là Đấng đã ban cho con cuộc sống trước lúc rạng đông, con đặt bản thân con trong sự hiện diện của Chúa. Con tim con tự do và miệng của con sạch sẽ; cơ thể và tinh thần của con đang chay tịnh. Con đã được xá khỏi tất cả các tội lỗi của con, những tội con đã thú nhận từng tội một . Chiếc nhẫn cưới trên ngón tay con và khuôn mặt của con được rửa sạch. Con giống như một con người vô tội trong ân sủng mà Ngài ban cho con. Đây là những gì lễ Vượt Qua của Chúa Kitô có thể làm cho chúng ta. Thánh Nữ Faustina, tông đồ của Lòng Chúa Thương Xót Nữ tu Faustina, qua đời năm 1938 tại Krakovia đã được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong chân phước vào ngày 18 tháng Tư năm 1993 và 7 năm sau đó ngài phong thánh cho chị vào ngày 30 tháng Tư năm 2000. Chị đã nổi tiếng từ Ba Lan và sau được nhiều quốc gia trên thế giới biết đến qua như vị tông đồ nhiệt thành phổ biến Lòng Thương Xót Chúa . Chúa Giêsu đã hiện ra với chị và yêu cầu Chúa Nhật sau thánh lễ phục sinh là ngày nhớ tới Lòng Thương Xót Chúa. Lễ Lòng Thương Xót Chúa đã được Đức Chân Phước Gioan Phaolô II thiết lập và ngài đã nhắm mắt lìa trần cách đây 9 năm vào chiều hôm trước ngày lễ. Hơn thế nữa, Đức Chân Phước Gioan Phaolô II sẽ được phong thánh vào đúng Lễ Lòng Thương Xót Chúa năm nay 2014. Thánh nữ Faustina chào đời ngày 25 tháng 8 năm 1905 tại Glogowiec, Ba Lan, và được đặt tên là Helen Kowalska. Thánh nữ là con thứ ba trong số mười người con của một gia đình nông dân nghèo khó và khiêm nhường. Thân phụ của thánh nữ là một người đạo hạnh, luôn tham dự các thánh lễ Chúa Nhật, đọc kinh Nhật Tụng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm hàng ngày, và ngắm sự Thương Khó Chúa Giêsu trong mùa Chay. Thân mẫu thánh nữ Faustina – bà Marianna – là người phụ nữ quảng đại, cần cù, và có tinh thần hy sinh. Cuộc đời của bà nổi bật với đức tính hy sinh trong việc phụ giúp chồng và nuôi dạy 10 người con, hai trai, tám gái. Năm lên 9 tuổi, Helen được xưng tội và rước lễ lần đầu. Trong giây phút đắm đuối ấy, chị đã nhận được sự hiện diện của Vị Thượng Khách Thần Linh trong linh hồn mình. Rước lễ đầu tiên là biến cố quan trọng trong cuộc đời Helen. Chị luôn luôn nghĩ tưởng đến mầu nhiệm sự hiện diện ẩn khuất của Thiên Chúa trong bí tích Thánh Thể. Có hai người láng giềng vẫn còn nhớ những chi tiết về ngày Helen được rước lễ lần đầu. Hôm ấy Helen từ thờ đi về một mình, đắm đuối và trầm tư. Một người láng giềng hỏi, “Sao em không đi với những trẻ khác?” Helen hết sức nghiêm trang đáp lại, “Tôi đang có Chúa Giêsu trong mình”. Một ngày kia, đang khi cùng với người em gái tham gia một cuộc khiêu vũ, bỗng nhiên Helen nhìn thấy Chúa Giêsu đau khổ, mình đầy những thương tích. Người phán với chị: “Cha còn phải chịu đựng con cho đến bao giờ, con còn phụ rẫy Cha cho đến bao giờ nữa đây?” Cuộc thị kiến làm Helen xao xuyến đến cực độ. Biết mình không thuộc về nơi đó nữa, Helen giả bộ nhức đầu, rồi rời bỏ đám hội và tìm đến một nhà thờ. Tại đó trước bí tích Thánh Thể, Helen đã xin Chúa cho biết Người muốn gì về chị. Và chị được nghe những lời này: “Con hãy đến gặp vị Linh Mục và cho ngài biết tất cả; ngài sẽ dạy con phải làm gì tiếp theo”. Vào tháng 8 năm 1924, Helen đến gõ cửa tu viện tọa lạc ở số 3/9 phố Zytnia tại Warsaw của dòng Đức Mẹ Nhân Lành. Tuy nhiên, trước khi ra tiếp khách, qua cánh của mở, bà Bề Trên đã nhìn thấy một thiếu nữ với một ngoại hình không chút ấn tượng nào. Khi Helen chưa kip nhìn thấy Bề Trên, thì bà đã trở vào và sai môt nữ tu khác ra bảo Helen hãy về đi. Về sau, bà Bề Trên kể lại “Vào lúc ấy, tôi chợt nghĩ rằng bảo người ta đi mà không trao đổi ít ra một đôi lời với họ là thiếu đức ái. Theo ơn soi sáng ấy, tôi trở ra và đến gần, tôi phát hiện ra thiếu nữ ấy có một nét rất đặc biệt: một nụ cười hiền hậu, trên khuôn mặt khả ái. Nét đơn sơ và cách phục sức giản dị của thiếu nữ ấy đã thắng được tôi”. Vào ngày mồng 1 tháng năm 1933, nữ tu Faustina phép Thánh Thể đã được tuyên khấn trọn đời. Chị sống trong hội dòng Các Nữ Tu Đức Mẹ Nhân Lành được mười ba năm, đảm nhận các công tác như làm bếp, coi vườn, giữ cổng tại nhiều trụ sở của dòng tại Plock, Vilnius, và Krakow. Trong tất cả các nơi ấy, chị thánh đã trung thành với những tục lệ của cộng đoàn và tận tâm chu toàn các việc phận sự. Bề ngoài, không có gì cho thấy cuộc sống phong phú nơi nội tâm chị thánh. Chị sốt sắng chu toàn các công tác và trung thành giữ trọn luật dòng. Chị thánh có một cuộc sống tịnh hiệp cao độ, nhưng rất tự nhiên, thanh thản, và có một đức ái vô điều kiện với người chung quanh. Mặc dù bên ngoài, đời sống chị thánh xem ra vô nghĩa và đơn điệu, nhưng bên trong là một sự kết hiệp ngoại thường với Thiên Chúa. Từ khi còn nhỏ, chị đã ước ao trở nên một vị đại thánh, và với lòng kiên định, chị đã hoàn thành hoài bão này đến mức hiến dâng chính cuộc sống cho các tội nhân. Đời sống đạo đức của thánh nữ Faustina chủ yếu tập trung vào việc sùng kính Lòng Thương Xót Chúa. Rõ ràng, nhờ hội dòng đặc biệt của mình, chị thánh đã chuẩn bị đầy đủ cho các công việc sứ mạng. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là ngoài nếp sống của dòng, chị thánh còn có một lòng sùng kính ngoại thường với Thánh Tâm Chúa Giêsu và Thánh Thể, bí tích mà qua đó, Lòng Thương Xót Chúa đã đổ chan hòa cho chúng ta. Chúa đã ủy thác cho chị nữ tu hèn mọn nhưng mạnh mẽ, khiêm nhượng, và tín thác cao độ của Người một sứ mạng đặc biệt: “Hiện nay Cha sai con đem tình thương của cha đến cho toàn thế giới, Cha không muốn đoán phạt, nhưng muốn chữa lành và ghì chặt nhân loại đau thương vào Trái Tim lân tuất của Cha. Sứ mạng của thánh nữ Maria Faustina phép Thánh Thể là loan báo thánh ý của Thiên Chúa, là công bố cho toàn thế giới biết về Lòng Thương Xót của Người. Bị kiệt quệ vì bịnh tật và những đau khổ khôn xiết mà chị đã tự nguyện đón nhận như một lễ hy sinh vì các tội nhân. Nữ tu Maria phép Thánh Thể đã từ trần vào ngày mồng 5 tháng 10 năm 1838, tại thành phố Krakow, nước Ba Lan khi mới 33 tuổi đời. Danh tiếng về mức trưởng thành thiêng liêng và kết hợp thần bí với Thiên Chúa của chi đã được công nhận rộng rãi. Tòa Thánh đã nhìn nhận ghi nhận hai phép lạ và lưu lại trong hồ sơ phong thánh :thứ nhất là Cha Ronald Pytel ở Baltimore , Mary Land bị bệnh tim rất nặng , kế đến là Bà Maureen Digan ở Stockbridge Massachusetts đã mắc bệnh bạch huyết cầu không chữa được . Lời Tận Hiến theo nữ tu Faustina Lạy Chúa Giêsu, từ nay chúng con xin hoàn toàn tận hiến cho Chúa . Trong bàn tay từ aí Chúa, chúng con dâng hiến trọn vẹn quá khứ , hiện tại và tương lai của chúng con . Lạy Chúa Giêsu, từ nay xin Chúa hãy săn sóc bảo vệ chở che gia đình chúng con . Xin giúp chúng con trở thành những người con ngoan hiền của Chúa và của Mẹ Maria rất thánh. Mẹ Chúa. Qua diện mạo của Chúa dây, xin lòng thương xót của Chúa chiến thắng mọi thế lực ác thần trên thế gian . Xin cho những ai khi sùng kính lòng thương xót Chúa sẽ không bị huỷ diệt . Xin lòng thương xót của Chúa trở thành niềm vui của họ ngay đời này; là niềm hy vọng trong lúc sinh thì và là vinh quang của họ trong cuộc sống vĩnh hằng . Chúng con cầu xin nhờ lời Chúa Kitô, Chúa chúng con . Amen  
Video: Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII   Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ phong thánh cho hai vị Giáo Hoàng tiền nhiệm của ngài là Đức Gioan XXIII và Đức Gioan Phaolô II vào ngày 27 Tháng 4 tới đây. Việc chọn phong thánh cho hai vị cùng một ngày thật là đầy ý nghĩa. Cả hai vị đại Giáo Hoàng đều có những ảnh hưởng sâu đậm không những trên Giáo Hội mà còn cả trên vận mệnh của thế giới đương đại. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tên khai sinh là Angelo Giuseppe Roncalli sinh ngày 25 tháng 11 năm 1881. Ngài là người con thứ tư trong gia đình có mười bốn đứa con. Cha mẹ ngài là những tá điền sống trong một ngôi làng ở Lombardy, Italia. Ngài được thụ phong linh mục ngày 10 tháng 8 năm 1904 và đảm trách nhiều chức vụ khác nhau như sứ thần Tòa Thánh tại Pháp, Bulgaria và Hy Lạp. Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tấn phong Hồng Y cho ngài ngày 12 Tháng Giêng năm 1953 và đặt ngài làm Thượng Phụ Thành Venice cũng như Hồng Y đẳng linh mục hiệu tòa Santa Prisca. Đức Roncalli được bầu làm giáo hoàng vào ngày 28 tháng 10 năm 1958 ở tuổi 76 sau mười một vòng bỏ phiếu. Những nhà bình luận thời ấy thường xem ngài như một vị Giáo Hoàng tạm thời. Tuy nhiên, Đức Gioan XXIII đã làm kinh ngạc họ với những dấu ấn ngài để lại cho Giáo Hội và thế giới. Ngài đã triệu tập Công Đồng Vatican II lịch sử với phiên khai mạc đầu tiên vào ngày 11 tháng 10 năm 1962 và kéo dài cho đến ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội 8 tháng 12 năm 1965. {youtube}leu207Im0zI{/youtube} Ngày 14 tháng 10 năm 1962, tức là ba ngày sau khi Đức Thánh Cha Gioan XXIII khai mạc Công Đồng, máy bay do thám Mỹ phát hiện ra Cuba và Liên Xô đã bắt đầu xây dựng các dàn phóng tên lửa đạn đạo hạt nhân tầm trung và tầm xa có khả năng tấn công hầu hết tất cả các thành phố trên nước Mỹ. Tổng thống Kennedy đặt quân đội trong tình trạng sẵn sàng chiến tranh, ráo riết triển khai các dàn phóng tên lửa hướng về Mạc Tư Khoa và Havana, phong toả Cuba, trong khi buộc Liên Sô và Cuba phải tháo gỡ các tên lửa. Bí thư đảng cộng sản Liên xô là Nikita Khrushchev không nhượng bộ còn đưa thêm tàu chiến áp sát Cuba và cho phép các tư lệnh chiến trường phóng các vũ khí hạt nhân chiến thuật, nếu Cuba bị Mỹ xâm lược. Thế giới tiến gần đến gần ngày tận thế hơn bao giờ hết. Hàng triệu người theo dõi các cuộc thách thức trên truyền hình. Hai phía dường như không còn có con đường nào để thoát ra khỏi một cuộc chiến được dự đoán là không thể tránh khỏi. Trước tình trạng mây đen chiến tranh đang tụ dần, che kín chân trời thế giới, ngày 25 tháng 10 năm 1962, trên radio Vatican, Đức Thánh Cha Gioan XXIII, đọc một diễn văn quan trọng bằng tiếng Pháp gởi tất cả các nhà lãnh đạo trên thế giới. Ngài nói: “Chúng tôi xin tất cả các chính phủ đừng giả điếc với tiếng kêu than của nhân loại. Họ cần phải làm tất cả những điều có thể trong thẩm quyền của mình để cứu vãn hòa bình. Như thế, họ sẽ tránh cho thế giới khỏi các nỗi kinh hoàng của một cuộc chiến tranh, mà hậu quả đáng sợ của nó không ai có thể dự đoán được. Họ cần tiếp tục các cuộc thương thảo, vì lối cư xử thành thật và cởi mở này có giá trị to lớn như một chứng tá cho lương tâm của mọi người, và trước lịch sử. Cổ vũ, ủng hộ, chấp nhận các cuộc đối thoại, ở mọi cấp và bất kỳ lúc nào, là một quy luật của sự khôn ngoan và thận trọng, đem lại những ơn lành của trời và đất”. Ngày hôm sau, thông điệp của Đức Giáo Hoàng xuất hiện trên các tờ báo trên khắp thế giới, trong đó có tờ Pravda (Sự thật), tờ báo chính thức của đảng Cộng sản Liên Xô. Nhan đề trong bài báo là: "Chúng tôi xin tất cả các chính phủ đừng giả điếc với tiếng kêu than của nhân loại”. Với lời nài xin của mình, Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã cho thủ tướng Khrushchev một lối thoát trong danh dự. Bằng cách rút lui ngay lúc ấy, ông có thể được xem như là một con người của hòa bình, chứ không phải là một kẻ hèn nhát. Hai ngày sau, ông Khrushchev, một người vô thần, lãnh tụ của một đất nước luôn hăng máu hủy diệt tôn giáo, luôn cố gắng nuôi dưỡng một cuộc chiến tranh tuyên truyền không mệt mỏi chống Vatican, đã đồng ý rút các tên lửa. Đổi lại, Kennedy cũng đã bí mật đồng ý rút các tên lửa của Mỹ khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. Có một việc công chúng thời đó ít người biết là vào ngày 23 tháng 9 năm 1962, chỉ một tháng trước khi khai mạc Công Đồng Vatican II và giúp thế giới thoát khỏi bờ vực chiến tranh, kết quả việc chụp X-quang cho Đức Thánh Cha Gioan XXIII biết là ngài bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Ngài biết là mình sắp từ giã cõi đời này. Trong lúc bi đát như thế, ngài vẫn tiếp tục cống hiến hết sức mình cho Giáo Hội và thế giới. Ngài được Chúa gọi về ngày 3 tháng 6 năm 1963. Những người thời đó đều lưu giữ một ký ức sống động về cảm xúc lan toả trong những ngày ấy. Quảng trường thánh Phêrô lúc đó trở thành một đền thánh ngoài trời, đón tiếp cả ngày lẫn đêm các tín hữu thuộc mọi lứa tuổi và thành phần xã hội, lo lắng và cầu nguyện cho sức khỏe của Đức Giáo Hoàng. Toàn thể thế giới đã nhìn nhận Giáo Hoàng Gioan là một vị mục tử và một người cha của nhân loại. Điều gì đã làm nên con người ngài như thế? Làm thế nào mà ngài có thể chạm đến trái tim của của những con người quá khác biệt nhau như thế, thậm chí ngay cả những người không phải là Kitô hữu nữa? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể liên tưởng đến khẩu hiệu Giám mục của ngài: oboedienta et pax: vâng phục và bình an. "Những từ này," –Giám mục Roncalli đã ghi lại trước ngày thụ phong trong cuốn “Nhật Ký Một Linh hồn, tĩnh tâm để chuẩn bị thụ phong giám mục, 13-17 tháng 3 năm 1925”. Bình an là khía cạnh rõ ràng nhất người ta dễ dàng nhận thấy nơi Đức Angelo Roncalli : bình an tự nhiên, thanh thản và thân ái. Đây rõ ràng là một nét đặc biệt về nhân cách của ngài, giúp ngài xây dựng tình huynh đệ bền chặt ở khắp mọi nơi, chẳng hạn trong thừa tác vụ là Đại Diện Tòa Thánh. Ngài đảm nhận cương vị này gần 3 thập niên, thường tiếp xúc với những môi trường và thế giới cách xa Thế Giới Công Giáo, nơi ngài được sinh ra và lớn lên. Chính trong những môi trường này mà ngài tỏ ra là người thợ dệt hữu hiệu các mối quan hệ và một người vô địch của tinh thần hiệp nhất, cả trong cộng đoàn Hội Thánh lẫn bên ngoài. Hơn thế nữa, ngài mở ra cuộc đối thoại với các Ki- hữu thuộc các Giáo Hội khác, với những người đại diện của Do thái giáo và thế giới Hồi giáo, và với nhiều người thiện chí khác. Đức Giáo Hoàng Gioan đã chuyển ban bình an đến với những ai tiếp xúc với ngài bởi vì tâm hồn ngài chìm ngập trong bình an: ngài đã để cho Chúa Thánh Thần tạo nên bình an trong tâm hồn. Và tâm hồn ấy tràn ngập bình an là hoa trái của một công trình lâu dài và thách thức trên chính bản thân ngài, mà những dấu vết phong phú đã để lại trong cuốn “Nhật Ký của một Tâm Hồn”. Trong đó chúng ta có thể thấy Roncalli - người chủng sinh, linh mục, giám mục – bám chặt vào tiến trình tiệm tiến là thanh tẩy tâm hồn. Chúng ta thấy ngài, ngày qua ngày, nỗ lực nhận ra và loại trừ những ước muốn bắt nguồn từ tính ích kỷ của bản thân và biện phân những soi sáng của Chúa, để mình được hướng dẫn bởi những vị linh hướng khôn ngoan và được truyền cảm hứng từ những bậc thầy như thánh Phanxicô đệ Salê và thánh Carolo Boromeo. Đọc những bài viết đó, chúng ta thực sự thấy được một linh hồn đang được hình thành dưới tác động của Chúa Thánh Thần, đang hoạt động trong Hội Thánh Người, trong các tâm hồn; chính Chúa Thánh Thần, cùng với những xu hướng tốt đó, đã đem lại bình an cho tâm hồn Roncalli. Giờ đây chúng ta hãy đề cập đến với từ thứ hai và có tính quyết định, đó là từ: "Vâng phục". Cho dù bình an là nét bên ngoài, thì thiên hướng bên trong của Roncalli hệ tại là vâng phục. Quả thế, vâng phục là phương tiện để đạt được bình an. Trước tiên, nó có một ý nghĩa rất đơn sơ và thực dụng: chu toàn trong Hội Thánh một việc phục vụ mà các bề trên của ngài yêu cầu, bằng cách không hề tìm kiếm bất kỳ điều gì cho bản thân, không trốn tránh bất kỳ điều gì được đòi hỏi, ngay cả khi điều đó có nghĩa là phải rời bỏ quê hương để đối diện với những thế giới mà mình không biết và sống nhiều năm ở những nơi có rất ít người Công Giáo và ở xa nhau. Đó là tinh thần sẵn sàng để được dẫn dắt như một đứa trẻ, tinh thần này đã tôi luyện đời hoạt động của ngài như một linh mục, như các bạn đã biết rất rõ; thư ký của Giám Mục Radini Tedeschi và đồng thời giáo sư và cha linh hướng trong đại chủng viện của giáo phận; Đại Diện Tòa Thánh ở Bungari, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và Pháp; Thượng Phụ Giáo Chủ Venice và cuối cùng, Giám Mục Rôma. Tuy nhiên, qua sự vâng phục này, Roncalli, trong tư cách linh mục rồi Giám mục, cũng đã sống một sự trung thành sâu xa, mà ta có thể gọi là, như ngài đã từng nói, sự phó thác vào Thiên Chúa Quan Phòng. Ngài luôn nhìn nhận trong đức tin rằng qua lối sống theo cách này, dường như được dẫn dắt bởi người khác chứ không theo sở thích hoặc dựa trên sự nhạy cảm thiêng liêng của chính mình, Thiên Chúa đang phác hoạ một kế hoạch của riêng Người. Ngài là con người quản trị, người lãnh đạo. Nhưng ngài là một nhà lãnh đạo được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, bởi sự vâng phục. Qua sự phó thác hàng ngày cho thánh ý Chúa, Giáo Hoàng Gioan tương lai đã sống ngày càng sâu xa hơn một cuộc thanh tẩy cho phép ngài hoàn toàn từ bỏ chính mình và bám chặt vào Đức Kitô. Chính theo cách này mà ngài làm cho sự thánh thiện toả sáng, sự thánh thiện mà Hội Thánh sau này đã chính thức nhìn nhận. Đức Giêsu nói với chúng ta: "Bất cứ ai mất mạng sống mình vì thầy thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” (Lc 9, 24) Đây là nguồn mạch đích thực của sự tốt lành của Đức Giáo Hoàng Gioan, của sự bình an mà ngài đã gieo vãi trên khắp thế giới. Chính nơi đây mà cội rễ của sự thánh thiện của ngài được tìm thấy: trong sự vâng phục theo tin mừng của ngài. Đó là bài học cho mỗi một người chúng ta, nhưng cũng cho Hội Thánh trong thời đại chúng ta: Nếu chúng ta để mình được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, nếu chúng ta có thể chết đi cho tính ích kỷ để dọn chỗ cho tình yêu Chúa và Thánh ý Người, chúng ta sẽ tìm thấy sự bình an, chúng ta sẽ là những người xây dựng bình an và sẽ lan toả bình an chung quanh chúng ta. Nửa thế kỷ sau cái chết của ngài, sự hướng dẫn khôn ngoan và đầy tình phụ tử của Đức Giáo Hoàng Gioan, tình yêu của ngài đối với truyền thống của Hội Thánh và ý thức về nhu cầu đổi mới không ngừng, trực giác tiên tri khi triệu tập công đồng Vatican II và sự dâng hiến cuộc sống của ngài cho sự thành công của công đồng, có giá trị như là cột mốc trong lịch sử Hội Thánh của thế kỷ hai mươi; và như là ngọn đuốc sáng cho hành trình đi về phía trước.  
Trở Về Galilea, Nguồn Gốc Ơn Gọi Của Cuộc Gặp Gỡ Với Đức Giêsu Và Lộ Trình Đức Tin    VATICĂNG: Sứ điệp Phục Sinh là trở về Galilea, nguồn gốc ơn gọi của cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu và lộ trình đức tin. Về Galilea có nghĩa là tái khám phá ra bí tích Rửa Tội của chúng ta như suối nguồn sống động, kín múc nghị lực mới từ cội nguồn đức tin và niềm hy vọng kitô của chúng ta. Trở lại Galilea trước hết có nghĩa là trở về điểm nóng bỏng, nơi hồng ân của Thiên Chúa đã đánh động chúng ta ở đầu lộ trình đức tin. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên trong bài giảng thánh lễ vọng Phục Sinh do ngài cử hành lúc 8 giờ rưỡi tối thứ Bẩy Tuần Thánh 19-4-2014. Trong thánh ngài đã ban bí tích Rửa tội cho 10 tân tòng trong đó có một người đàn ông Việt Nam. Tham dự Thánh lễ có 10.000 tín hữu và du khách hành hương. Thánh lễ đã bắt đầu với lễ nghi làm phép và rước nến Phục Sinh. Tiếp đến là phần phụng vụ Lời Chúa với ba bài đọc Thánh Kinh Cựu Ước liên quan tới việc tạo dựng con người, biến cố ông Môshê dẫn dân Do Thái vượt qua Biển Đỏ và sự kiện Thiên Chúa sẽ đổ Thần Khí của Ngài xuống và ban cho dân Do thái một con tim mới. Thư thánh Phaolô gửi tín hữu Roma nói về phép rửa và cuộc sống mới Chúa Kitô ban cho tín hữu, sau khi con người cũ đã chết và được mai táng với Chúa Kitô. Phúc Âm kể lại biến cố các phụ nữ ra mồ viếng xác Chúa, thấy mồ trống, gặp thiên thần loan báo Chúa đã sống lại và các bà vội vã về báo tin cho các môn đệ. Giảng trong thánh lễ Đức Thánh Cha nói: Sau khi Thầy chết, các môn đệ tản mác mỗi người một ngả, đức tin của họ bị tan vỡ, mọi sự xem ra đã hết, các xác tín sụp đổ, các niềm hy vọng tắt ngúm. Nhưng giờ đây tin các phụ nữ báo cho họ, tuy không tin được, nhưng đã như một tia sáng chiếu trong bóng tối. Chúa đã sống lại như Người đã báo trước. Và hai lần lệnh truyền đi Galilea gặp Người. Galilea là nơi họ được kêu gọi và mọi sự bắt đầu. Trên bờ hồ Galilea Chúa Giêsu đã đi qua và kêu gọi họ, khi họ đang vá lưới. Và họ đã bỏ tất cả đều theo Người (X, Mt 4,18-22). Trở về Galilea có nghĩa là đọc lại tất cả từ thập giá và vinh quang. Đọc lại tất cả: sự giảng dậy, các phép lạ, cộng đoàn mới, các hăng say và vào ngũ cho tới sự phản bội. Đọc lại tất cả từ cuối là một khởi đầu từ cử chỉ tình yêu tột đỉnh ấy của Chúa. Tiếp tục bài giảng Đức Thánh Cha nói: đối với từng người chúng ta cũng có một ”Galilea” ở nguồn gốc lộ trình với Chúa Giêsu. Về Galilea có nghĩa là tái khám phá ra bí tích Rửa Tội của chúng ta như suối nguồn sống động, kín múc nghị lực mới từ cội nguồn đức tin và niềm hy vọng kitô của chúng ta. Trở lại Galilea trước hết có nghĩa là trở về điểm nóng bỏng, nơi hồng ân của Thiên Chúa đã đánh động chúng ta ở đầu lộ trình đức tin. Chính từ tia lửa đó tôi có thể thắp lên ngọn lửa ngày nay, để mỗi ngày đem hơi ấm và ánh sáng tới cho các anh chị em khác. Từ tia sáng đó chúng ta thắp lên một niềm vui khiêm tốn, một niềm vui không xúc phạm đến sự đau khổ và tuyệt vọng, một niềm vui tốt lành và hiền dịu. Trong cuộc sống kitô sau bí tích Rửa Tội, cũng có một ”Galilea” hiện sinh hơn: đó là kinh nghiệm gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu Kitô, là Đấng đã gọi tôi theo Người và tham dự vào sứ mệnh của Người. Trong nghĩa đó trở lại Galilea có nghĩa là giữ gìn trong tim ký ức sống động của lời kêu gọi ấy, khi Chúa Giêsu đi ngang qua con đường đời sống của tôi, đã nhìn tôi với lòng thương xót và đã xin tôi đi theo Người; có nghĩa là thu hồi ký ức thời điểm trong đó đôi mắt Người gặp gỡ đôi mắt của tôi, thời điểm trong đó Người đã làm cho tôi cảm nhận được rằng Người yêu tôi. Hôm nay trong đêm thánh này mỗi người trong chúng ta hãy tự hỏi: Galilea của tôi là gì, ở đâu, tôi có nhớ không hay tôi đã quên nó rồi? Tôi đã đi theo các con đường khiến tôi quên nó. Lậy Chúa, xin giúp con: hãy nói cho con biết đâu là Galilea của con; Chúa biết không, con muốn trở lại đó để gặp Chúa và để cho lòng thương xót của Chúa ôm con. Tin Mừng Phục Sinh thật rõ ràng: cần trở lại đó để trông thấy Chúa Giêsu phục sinh, và trở thành chứng nhân sự sống lại của Người. Đây không phải là một việc trở lại đàng sau, không phải là sự nuối tiếc. Nó là việc trở lại tình yêu ban đầu để nhận lấy ngọn lửa mà Chúa Giêsu đã thắp lên trên thế giới và đem đến cho tất cả mọi người, cho tới tận cùng bờ cõi trái đất, ”Galilea của dân ngoại” (Mt 4,15; Is 8,23): chân trời của Chúa Phục Sinh, chân trời của Giáo Hội; ước mong gặp gỡ mãnh liệt... Chúng ta hãy lên đường!” (SD 19-4-2014)   Ảnh: AP Photo/Alessandra Tarantino, AFP Photo/Filippo Monteforte, REUTERS/Alessandro Bianchi  (Linh Tiến Khải, RadioVaticana 20.04.2014)  
Xin Chúa Phục Sinh Ban Hòa Giải, Hòa Bình Hòa Hợp Cho Các Vùng Có Xung Khắc Chiến Tranh Và Bạo Lực Trên Thế Giới    Đó là lời cầu Đức Thánh Cha Phanxicô đã đưa ra trong buổi đọc sứ điệp Phục Sinh và ban phép lành toàn xá cho thành Roma và thế giới trưa Chúa Nhật 20-4-2014. Trước đó lúc 10 giờ sáng Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự thánh lễ trước thềm Đền Thờ Thánh Phêrô, đọc sứ điệp Phục Sinh và ban phép lành toàn xá cho thành Roma và toàn thế giới. Quảng trường thánh Phêrô đầy kín tín hữu. Những ai không tìm ra chỗ phải theo dõi thánh lễ tại quảng trường Pio XII và đại lộ Hòa Giải. Thánh lễ đã được trực tiếp truyền đi trên các hệ thống truyền hình âu châu và quốc tế. Trong số các người tham dự thánh lễ, ngoài các Hồng Y, Tổng Giám Mục và Giám Mục hiên diên tại Roma, có ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh. Thềm Đền Thờ thánh Phêrô được trang hoàng bằng 35.000 cây cảnh và nhiều loại hoa khác nhau, trong đó có 12.000 hoa Tulip mầu đỏ, vàmg, da cam, trắng, hồng và tím; 6.000 hoa Thủy tiên nhiều mầu, và 2.500 huệ dạ hương. Ngoài ra còn có 8.000 hoa Thủy tiên vàng. Chung quanh bàn thờ có 2.500 bông hồng trắng. Tất cả đều được trồng bến Hòa Lan cho dịp này, và do nhóm 30 chuyên viên Hòa Lan trưng bầy dưới sự điều động của ông Charles van der Voort, em ruột của ông Nic van der Voort, và sự cộng tác của các nhân viên làm vườn của quốc gia thành phố Vaticăng. Truyền thống tặng hoa cho Đức Giáo Hoàng trong dịp lễ Phục Sinh và buổi đọc sứ điệp và ban Phép lành toàn xá cho thành Roma và toàn thế giới đã do các nhà trồng hoa Hòa Lan bắt đầu năm 1986. Năm 1985 chuyên viên trồng hoa Nic van der Voort đã xin sang Roma để trang hoàng hoa trong lễ phong Chân phước cho linh mục Titus Brandsma người Hòa Lan. Ông đã nảy sinh ra sáng kiến tặng hoa cho Đức Giáo Hoàng và gửi phái đoàn chuyên viên sang trưng bầy hoa vào năm sau đó. Và truyền thống tốt đẹp này đã dươc duy trì trong 29 năm qua. Sau lời chào mở đầu thánh lễ Đức Thánh Cha nói: ”Anh chị em thấn mến, chúng ta hãy khẩn nài phước lành của Thiên Chúa Cha chúng ta, để lễ nghi rảy nước này làm sống dậy trong chúng ta ơn thánh của Bí tích Rửa Tội, qua đó chúng ta đã được dìm mình trong cái chết cứu độ của Chúa hầu sống lại với Người trong cuộc sống vĩnh cửu. Ca đoàn Sistina đã hát thánh ca ”Tôi đã thấy nước vọt ra từ đền thánh của Thiên Chúa”. Các bài sách Thánh đã được đọc trong tiếng Tây Ban Nha và Anh. Thánh vịnh và Tin Mừng đã được hát và công bố bằng tiếng Latinh và Hy lạp. Năm nay lễ Phục Sinh của Giáo Hội Tây Phương trùng ngày với lễ Phục Sinh của Giáo Hội Đông Phương, nên sau phần công bố Tin Mừng băng tiếng Hy lạp, ca đoàn đông phương đã hát các câu thánh ca của phụng vụ Bisantin, xưa kia vẫn được hát trước Đức Giáo Hoàng trong ngày lễ Phục Sinh. Các lời nguyện giáo dân đã được đọc bằng các thứ tiếng Hindi, Pháp, Hoa, Đức, và Đại Hàn cầu cho các nhu cầu khác nhau của Giáo Hội và gia đình nhân loại. Xin Chúa phục sinh hiện diện và nâng đỡ Giáo Hội; xin cho mọi thụ tạo và mọi người biết tôn thờ Chúa, đặc biệt xin cho các niềm hy vọng của các dân tộc được hiện thực; cho con người biết chấm dứt các ích kỷ, tham lam chiếm hữu và chay theo quyền bính kiêu căng; xin Chúa thoa dịu các vết thương của khổ đau, nghèo đói, âu lo và cô đơn; xin Chúa xót thương các con cái Người bị ghi dấu bởi sự giòn mỏng và tội lỗi và cho họ được tràn xầy lòng thương xót của Người. Một trăm năm mươi Linh Mục đã cho tín hữu rước Mình Thánh Chúa. Sau thánh lễ xe díp đã chở Đức Thánh Cha đi một vòng để chào tín hữu. Lúc 12 giờ trưa Đức Thánh Cha đã xuất hiện trên bao lơn chính giữa Đền Thờ Thánh Phêrô để đọc sứ điệp Phục Sinh và ban phép lành toàn xá cho thành Roma và toàn thế giới. Đội cận vệ Thụy sĩ và đại diện các lực lượng binh chủng Italia đã dàn hàng chào danh dự, và ban quân nhạc đã cử hành quốc thiều Vaticăng và Italia. Trong sứ điệp Đức Thánh Cha đã duyệt qua các tình hình căng thẳng, khổ đau và nóng bỏng hiện nay trên thế giới. Mở đầu sứ điệp ngài chúc mừng lễ mọi người và nói: Anh chị em thân mến, xin chúc anh chị em lễ Phục Sinh tốt lành thánh thiện! ”Chúa Kitô đã sống lại, anh chị em hãy đến và hãy nhìn xem!” Lời thiên thần loan báo cho các phụ nữ vang lên trong Giáo Hội tản mác khắp thế giới: ”Này các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu chịu đóng đanh. Người không ở đây. Người đã sống lại... hãy đến và nhìn xem nơi Người đã nằm” (Mt 28,5-6). Đức Thánh Cha nói: Đó là tột đỉnh của Phúc Âm, là Tin Mừng tuyệt diệu: Đức Giêsu đấng bị đóng đinh đã sống lại! Biến cố này là nền tảng đức tin và niềm hy vọng của chúng ta. Nếu Chúa Kitô đã không sống lại, Kitô giáo sẽ mất đi giá trị của nó; toàn sứ mệnh của Giáo Hội sẽ mất sự thúc đẩy, bởi vì chính từ đó nó đã khởi hành và luôn luôn tái khởi hành. Sứ điệp mà tín hữu kitô đem đến cho thế giới là điều này: Đức Giêsu Tình yêu nhập thể đã chết trên thập giá vì tội lỗi chúng ta, nhưng Thiên Chúa đã cho người sống lại và đã đặt Người làm Chúa của sự sống và sự chết. Nơi Đức Giêsu, Tình Yêu đã chiến thắng thù hận, lòng thương xót đã chiến thắng tội lỗi, sự thiện chiến thắng sự dữ, chân lý chiến thắng dối trá, sự sống chiến thắng sự chết. Vì thế chúng ta nói với tất cả mọi người: ”Hãy đến và hãy xem!”. Trong mọi trạng huống của con người, bị ghi dấu bới sự giòn mỏng, tội lỗi và cái chết, Tin Mừng không chỉ là một lời nói, nhưng là một chứng tá tình yêu nhưng không và trung thành: đó là ra khỏi chính mình để đi gặp gỡ tha nhân, đó là gần gũi những ai bị thương tích bởi cuộc sống, chia sẻ với người thiếu thốn những gì cần thiết, ở lại bên cạnh người đau yếu, già cả hay bị loại trừ... ”Hãy đến và hãy xem!”: Tình Yêu mạnh hơn, Tình Yêu trao ban sự sống, tình yêu làm nở hoa niềm hy vọng trong sa mạc. Với niềm vui chắc chắn này trong tim hôm nay chúng con hướng lên Ngài, lậy Chúa phục sinh! Xin hãy giúp chúng con tìm Chúa để tất cả có thể gặp gỡ Chúa, biết rằng chúng con có một người Cha và không cảm thấymồ côi, rằng chúng con có thỂ yêu Chúa và thờ phượng Chúa. Xin hãy giúp chúng con đánh bại nạn đói đang trở thành trầm trọng hơn bởi các xung khắc và các phung phí vô biên mà chúng con là đồng lõa. Xin làm cho chúng con có khả năng che chở những người không được bênh đỡ, nhất là các trẻ em, phụ nữ người già, đôi khi trở thành đối tượng của khai thác bóc lột và bỏ rơi. Xin làm cho chúng con có thể săn sóc các anh chị em bị bệnh dịch abola bên Guinea Conacry, Sierra Leone và Liberia, cũng như các người bị biết bao nhiêu bệnh tật khác đang lan tràn vì không được săn sóc và vì nghèo túng cùng cực. Xin an ủi những ai hôm nay không thể cử hành lễ Phục sinh với người thân vì bị giật mất khỏi tình yêu thương của họ một cách bất công, cũng như nhiều người, các linh mục tu sĩ và giáo dân bị bắt cóc tại nhiều nơi trên thế giới. Xin an ủi những người đã rời bỏ quê hương để di cư tới các nơi mà họ có thể hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn, để sống cuộc đời mình với phẩm giá, và nhiều khi để tự do tuyên xưng đức tin. Đức Thánh nói thêm trong lời cầu dâng lên Chúa phục sinh: Lậy Chúa Giêsu vinh hiển, chúng con xin Chúa chấm dứt mọi chiến tranh, mọi thù nghịch lớn nhỏ, cũ mới! Chúng con đặc biệt khẩn nài Chúa cho dân nước Siria thân yêu để tất cả những ai phải khổ đau vì các hậu qủa của cuộc xung đột có thể nhận được các trợ giúp nhân đạo cần thiết, và để các phe phái liên hệ không sử dụng bạo lực để giao rắc chết chóc nữa, nhất là chống lại người dân vô tội, nhưng táo bạo thương thuyết hòa bình, được chờ đợi qúa lâu rồi! Chúng con xin Chúa an ủi các nạn nhân của các cuộc chiến huynh đệ tương tàn bên Irak, và nâng đỡ các niềm hy vọng được dấy lên bởi việc tái thương thuyết giữa người Israel và người Palestin. Chúng con nài xin Chúa chấm dứt các xung đột tại Cộng hòa Trung Phi và và ngưng các vụ khủng bố trong vài vùng của nước Nigeria và các bạo lực bên Nam Sudan. Chúng con xin cho các tâm hồn hướng tới sự hòa giải và hòa hợp huynh đệ bên Venezuela. Vì sự Phục Sinh của Chúa, mà năm nay chúng con cùng nhau cử hành với các Giáo Hội theo lịch Giuliano, chúng con xin Chúa soi sáng và gợi hứng cho các sáng kiến hòa giải bên Ucraina, để tất cả các phe phái liên hệ, được cộng đoàn quốc tế trợ giúp, làm tất cả mọi nỗ lực hầu ngăn cản bạo lực và xây dựng tương lai đất nước trong tinh thần hiệp nhất và đối thoại. Cho tất cả mọi dân tộc trên trái đất, lậy Chúa, chúng con cầu xin: Chúa là Đấng đã chiến thắng sự chết, xin ban cho chúng con sự sống của Chúa, xin ban cho chúng con hòa bình của Chúa! ”Chúa đã sống lai. Hãy đến và xem! Anh chị em thân mến, xin chúc mừng lễ Phục Sinh anh chị em. Đức Hồng Y Jean Louis Tauran, đẳng trưởng phó tế đã báo cho mọi người biết Đức Thánh Cha ban phép lành toàn xá cho thành Roma và toàn thế giới, cho tất cả những ai theo dõi lễ nghi trên đài phát thanh truyền hình. Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa cho Đức Thánh Cha trường thọ để dẫn dắt Giáo Hội và ban hòa bình và hiệp nhất cho Giáo Hội và toàn thế giới. Đức Thánh Cha đã đọc công thức ban phép lành toàn xá: xin hai thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô mà chúng ta tin tưởng nơi quyền năng của các vị, bầu cử cho chúng ta bên Chúa, nhờ lời cầu bầu của Đức Thánh Trinh Nữ Maria, tổng lãnh thiên thần Micae, thánh Gioan Tẩy Giả, các thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô và các Thánh, xin Thiên Chúa toàn năng thương xót và tha thứ tội lỗi cho tín hữu và xin Chúa Giêsu Kitô dẫn đưa họ tới cuộc sống vĩnh cửu. Ngài nói thêm: Xin Thiên Chúa toàn năng và từ bi ban cho anh chị em ơn toàn xá, tha thứ mọi tội lỗi của anh chị em, ban cho anh chị em một thời gian sám hối đích thật và phong phú, một con tim luôn sẵn sàng và sửa đổi cuộc sống, ơn thánh và sự ủi an của Chúa Thánh Thần và sự kiên trì sau cùng trong các việc thiện. Tiếp đến Đức Thánh Cha ban phép lành cho mọi người. Sau phép lành toàn xá Đức Thánh Cha nói: Anh chị em thân mến. một lần nữa tôi xin chúc lễ Phục Sinh tốt lành tất cả anh chị em đến từ nhiều nơi trên thế giới hiện diện tại quảng trường thánh Phêrô. Ngài cũng gửi lời mừng lễ tới tất cả những ai theo dõi buổi đọc sứ điệp qua các phương tiện truyền thông. Xin anh chị em đem lời loan báo tới các gia đình và cộng đoàn của anh chị em tin vui Chúa Kitô, sự bình an và niếm hy vọng của chúng ta, đã sống lại. Xin cám ơn sự hiện diện, lời cầu nguyện và chứng tá đức tin của anh chị em. Ngài cũng cám ơn các hiệp hội trồng hoa Hòa Lan đã tặng các hoa rất đẹp cho buổi lễ, rồi nói: xin chúc tất cả mọi người một lễ Phục Sinh tươi vui an lành.   Ảnh: AP Photo/Andrew Medichini, REUTERS/Tony Gentile    (Linh Tiến Khải, RadioVaticana 20.04.2014)  
Hình Ảnh Phục Sinh Trong Các Thánh Vịnh Theo nhãn quan hiện đại, sống và chết ở hai đầu đối nghịch. Chúng ta thường nghĩ về một người như một hữu thể hoặc sống hoặc chết. Người Do Thái cổ thì khác. Đối với họ, căn bệnh trầm trọng cũng đã là một phần của cái chết. Theo kinh nghiệm của họ, người bệnh nặng rất cận kề với cái chết và thực tế hầu như đã ở trong nanh vuốt của sự chết. Không chỉ riêng bệnh tật mà thôi nhưng tất cả các khía cạnh hạn chế của đời sống con người đều là những bộ mặt của sự chết. Như vậy, sự chết bao gồm cả sự cằn cỗi, vô sinh, nghèo đói, âu lo, mất con, mất đất, mất sức khoẻ. Người Do Thái cũng quan niệm như vậy về thiên nhiên. Thiên nhiên có thể lâm bệnh khi có hạn hán hoặc đói kém. Cuối cùng, quốc gia và cộng đồng cũng có thể bị đau buồn do chiến tranh, tai hoạ, kẻ thù và sự bất tuân do tội lỗi gây ra. Trong nhãn quan như thế, một cá nhân vui hưởng sự trọn vẹn của cuộc sống khi họ có con cháu, tài sản, đất đai, sức khoẻ, sự kính trọng của hàng xóm láng giềng và sự mãn nguyện. Một thế giới thiên nhiên lành mạnh khi nó màu mỡ sung túc và một quốc gia lành mạnh khi sống hoà bình với láng giềng và Thiên Chúa. Không có từ nào chỉ “sự phục sinh” trong Sách Thánh của người Do Thái hoặc các Thánh vịnh. Thánh vịnh gia nói lên niềm hy vọng khi mình được kéo ra khỏi âm phủ (Sheol), thế giới bên dưới, cũng như hy vọng rằng chính Thiên Chúa sẽ có tiếng nói cuối cùng chứ không phải sự chết. Trong bối cảnh này, ý niệm về sự phục sinh có nghĩa là vào lúc kề cận cái chết thì sự sống được phục hồi, từ bóng tối được đưa về ánh sáng, từ bệnh tật được phục hồi sức khỏe, từ đau khổ đưa về bình an. Niềm tin vào sự phục sinh là sự cậy dựa vào Thiên Chúa sẽ lên tiếng chứng nhận cho người công chính và những ai trung thành với Chúa. Trong bài này, tôi sẽ nói đến các hình ảnh về phục sinh trong các Thánh vịnh nói chung và sau đó tập trung vào hai Thánh vịnh 49 và 73. Tôi chọn các Thánh vịnh này vì chúng diễn tả niềm hy vọng rằng khi kết hiệp với Chúa thì sẽ thắng được sự chết. Đời sống trọn vẹn, hạnh phúc của người công chính được phác hoạ bằng hình ảnh cây cối, cành nho trĩu quả, những dòng suối. Thánh vịnh 1 nói: “Họ như cây trồng bên suối nước, trổ sinh hoa trái đúng mùa, lá cây không bao giờ tàn úa. Mọi việc họ làm đều thịnh đạt” (Tv 1,3). Có những Thánh vịnh so sánh người công chính với cây cối mọc gần đền thờ: “Tôi như cây ôliu xanh tươi mọc trong nhà Chúa” (Tv 52,8-9). “Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Liban được trồng nơi nhà Chúa, mơn mởn giữa khuôn viên đền thánh Chúa ta. già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả,tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn” (Tv 92,13-15). “Nhà của Chúa”, đền thờ, Vườn Địa Đàng biểu tượng và nơi cư trú của thần thánh, tất cả đều đầy cây cối, vườn tược, suối nước chảy quanh. Người Do Thái thành tín tin rằng họ có thể gặp gỡ Chúa tại đền thờ. Bây giờ, chúng ta tập trung vào các Thánh vịnh 49 và 73. Các thánh vịnh này nói lên cái nhìn về phục sinh như là được Thiên Chúa cứu thoát, và niềm hy vọng khi kết hiệp với Chúa thì sẽ vượt thắng sự chết. Thánh vịnh 49 Thánh vịnh 49 là thánh vịnh khôn ngoan, nói lên sự hiểu biết nào đấy về đời sống con người. Thánh vịnh mở đầu bằng lời huấn dụ trịnh trọng với toàn thể thế giới và với những ai lưu tâm đến lời dạy của nó. Người nhạc trưởng loan truyền sứ điệp dưới hình thức một câu cách ngôn: “Dù sống trong danh vọng, con người cũng không thể trường tồn; thật nó chẳng khác chi con vật một ngày kia phải chết” (Tv 49,13.21). Thánh vịnh gia nói ai nấy đều phải chết. Bất kỳ bạn là người khôn ngoan, học thức hay dốt nát thì thảy đều đi về một kết thúc cuối cùng. Thế thì tại sao bạn lại khoát lác hay sợ hãi thời gian đầy hoang mang này? Thật ngốc nghếch khi ghen tỵ với người giàu có hay khoe khoang tài sản vì họ cũng sẽ phải chết và bỏ lại mớ gia sản kếch xù kia. Thánh vịnh gia phác hoạ một hình ảnh thật ấn tượng về cái chết như là người mục tử vội vã lùa đàn gia súc của mình về căn nhà mới, về âm phủ (Sheol). Ý niệm “giá cứu chuộc” là tâm điểm của Thánh vịnh: “Nhưng nào có ai tự chuộc nổi mình và trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa? Mạng người dù giá cao mấy nữa, thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời, Nào phàm nhân sống mãi được sao mà chẳng phải đến ngày tận số?” (Tv 49,8-10). “Giá cứu chuộc” có nghĩa là một người phải đánh đổi điều này để lấy điều kia. Tại đất Do Thái cổ xưa,“giá cứu chuộc” diễn ra trong bối cảnh phụng tự. Sách Xuất Hành dạy rằng mọi giống đực đầu lòng đều thuộc về Thiên Chúa. Gia đình phải cứu lấy hoặc chuộc lại con giống đực đầu lòng này bằng cách dâng một con vật khác hoặc đổi bằng món tiền chuộc. Con lừa đực đầu lòng được chuộc bằng một con chiên (Xh 13,12-15; Ds 18,15-17). Con trai đầu lòng được gia đình chuộc lại bằng 5 đồng shekel bạc. Phải đem con vật cứu chuộc hoặc món tiền vào đền thờ hay thánh điện. Trong Thánh vịnh 49, thánh vịnh gia biết rằng xin Thiên Chúa chuộc lại đời sống con người thì đắt giá vô cùng thậm chí là vô giá vì dường như đó là điều không thể. “Nào phàm nhân sống mãi được sao mà chẳng phải nhìn thấy nấm mồ?” (Tv 49,10). Số phận cuối cùng của mọi người là nấm mộ, là nhà và chốn nương náu của họ. Ai có thể thoát được nó? Thánh vịnh như ngầm hỏi: Âm phủ (Sheol) có phải là đích đến cuối cùng không? Thánh vịnh gia dường như không tin điều đó. “Nhưng Chúa Trời sẽchuộc mạng tôi, gỡ tôi ra khỏi quyền lực âm phủ”. Ai sẽ trả giá cứu chuộc, lấy mạng sống đổi mạng sống hoặc trả một món tiền cao đến không thể có được? Thánh vịnh đưa ra câu trả lời: Thiên Chúa sẽ cứu chuộc con người, “vì Chúa Trời sẽ chuộc mạng tôi” (c. 16).Động từ này trong tiếng Do Thái dịch chính xác là “Ngài sẽ nắm lấy (tôi)”. Nghĩa của câu này hoàn toàn không rõ ràng. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng Thiên Chúa sẽ nắm lấy để lôi con người ra khỏi âm phủ. Số phận cuối cùng của con người không phải là âm phủ mà là ở với Chúa, Đấng đã nắm lấy con người ra khỏi đó. Sự phục sinh trong Thánh vịnh 49 có nghĩa là Thiên Chúa cứu chuộc con người khỏi nanh vuốt Tử Thần và kéo con người ra khỏi âm phủ để ở với Chúa. Mặc dù cái chết là định mệnh của mọi người phải chết nhưng quyền năng Chúa còn lớn lao hơn sự chết. Thánh vịnh 73 Thánh vịnh 73 là thánh vịnh muộn thời, được viết sau khi Đền thờ bị phá huỷ và có lẽ sau thời lưu đày. Thi sĩ đang nói từ trong cộng đồng của người Do Thái. Ông kinh nghiệm cay đắng đến tận xương tuỷ về đền thờ bị phá huỷ và cuộc lưu đày. Từ đầu tiên của sách Ai Ca là ‘êkah’,“làm sao!” “Làm sao Chúa lại cho phép điều này xảy ra chứ?”. Câu hỏi này cũng có thể là bối cảnh của thánh vịnh. Thánh vịnh 73 là thánh vịnh đầu tiên trong các thánh vịnh của Asaph, một trong ba nhạc trưởng của ban nhạc Đền thờ. Thánh vịnh 73 được gọi là thánh vịnh khôn ngoan vì nó chứa những yếu tố sư phạm. Thánh vịnh nói về một người trong cộng đoàn Do Thái và tự xem mình là người có “tâm hồn trong sạch”. Ông bị cám dỗ bỏ đường ngay nẻo chính vì nhìn thấy và thầm ghen tức với vận may của ác nhân. Ông thấy bọn ác nhân ngạo nghễ, bạo tàn và ức hiếp. Chúng “xúc phạm trời cao”, nghĩa là “chống lại Thiên Chúa”. Chúng phây phây chẳng bận tâm đến việc Chúa biết hay không biết đến hành động ác nhân của chúng. Bất luận thế nào thì chúng cũng vẫn không bị phạt mà ngày càng giàu mạnh. Sự mâu thuẫn này khiến ông khó chịu. Ông tra vấn lối sống của người thanh sạch: “Lạy Chúa, như thế là con đã uổng công giữ lòng trong trắng, giữ tay thanh sạch! Suốt ngày con bị đòn bị đánh, mỗi sớm mai hình phạt sẵn chờ” (Tv 73,13-14). Ông đã trung thành với Chúa vậy mà đời sống của ông như một hình phạt. Nhưng đồng thời ông cũng biết rằng nếu ông xúc phạm đến Chúa như bọn ác nhân đã làm thì ông đã thất trung với bao thế hệ trung tín nối tiếp nhau. Cho đến khi vào trong thánh điện Thiên Chúa ông mới hiểu ra (c. 17). Thánh vịnh nói mập mờ về bản chất của sự hiểu biết này. Song điều rõ ràng là thi sĩ đã kinh nghiệm về Thiên Chúa, một kinh nghiệm thay đổi cái nhìn của ông về đời sống. Ông tiếp tục nhận ra rằng vận mệnh cuối cùng của ác nhân hoàn toàn khác với sự sang giàu của chúng trên mặt đất này. Chúng “rơi vào cảnh điêu tàn”, “nơi trơn trượt” ở Thế giới bên dưới. Chúng “kinh hoàng”, “sụp đổ”, “cuốn mất cả tăm hơi!” (c. 19). Thánh vịnh gia lại có thêm một mạc khải thứ hai. Ông nhận ra rằng những ai tra vấn trí khôn của Thiên Chúa thì thật “ngu si” và là kẻ “chẳng hiểu gì” (c. 22). Thiên Chúa vẫn ở với người ấy trọn cả đời sống: “Thật con ở với Chúa luôn, tay con Ngài nắm chẳng buông chẳng rời, dắt dìu khuyên nhủ bao lời, một mai đưa tới rạng ngời quang vinh” (cc. 23-24). Giống như Thánh vịnh 49, Thánh vịnh 73 diễn tả sựphục sinh như là ở với Chúa và được Chúa nắm lấy tay. Thánh vịnh kết thúc bằng lời kinh tín thác.          Roberta L. Salvador, MM             The Bible Today,       Vol. 49, số 45, September/October 2011, tr. 279-284            Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ  
Suy Niệm Đàng Thánh Giá Của Đức Thánh Cha Phanxicô Tại Hý Trường Colosseo: 18-4-2014   ROMA. Giống như năm ngoái và theo vết các vị tiền nhiệm, lúc quá 9 giờ tối thứ sáu Tuần Thánh 18-4-2014, ĐTC Phanxicô sẽ chủ sự buổi đi đàng Thánh Giá trọng thể tại Hý trường Colosseo ở Roma, nơi đã có nhiều tín hữu Kitô chịu khổ hình vì đức tin. Tham dự buổi Buổi đi đàng thánh giá này sẽ có hàng chục ngàn tín hữu hiện diện không kể hàng trăm triệu khán thính giả trên thế giới tham dự qua truyền hình. Bài suy niệm cho buổi đi đàng thánh giá năm nay do Đức Cha Giancarlo Bregantini, TGM giáo phận Campobasso ở miền nam Italia biên soạn. Năm nay ngài 66 tuổi (1948), thuộc dòng các dấu thánh Chúa Giêsu (CSS) và nổi tiếng về lập trường quyết liệt chống các tổ chức bất lương mafia. Qua 14 chặng đàng thánh giá, Đức TGM Brigantini đề nghị một suy tư về những đề tài khác nhau liên quan đến thực tại ngày nay, đặc biệt là ở miền nam Italia, với cuộc khủng hoảng kinh tế kéo theo những hậu quả trầm trọng về mặt xã hội, như nạn thất nghiệp, cho vay ăn lời ”cắt cổ”. Đức TGM cũng nhắc đến thảm trạng những người tị nạn, ma túy, rượu chè, và bao nhiêu người bị ung thư bì các chất độc phế thải chôn trong lòng đất; tình trạng các nhà tù đông nghẹt, nạn bàn giấy và nền tư pháp chậm như rùa, nạn tra tấn ở nhiều nơi trên thế giới, nạn bạo hành chống phụ nữ.Sau đây là bản dịch bài suy niệm của Đức TGM Brigantin do Đức Anh OP (1-6), Mai Anh (7-10) và Hoàng Nam SJ (11-14) Chặng thứ I: Chỉ tay lên kết án ”Philatô lại nói với họ, vì ông muốn tha Chúa Giêsu. Nhưng họ lại gào to lên: ”Đóng đinh nó vào thập giá!”. Và lần thứ ba ông nói với họ: ”Nhưng người này có làm gì gian ác đâu? Tôi không thấy nơi ông ta có điều gì làm cho ông đáng chết. Vậy tôi sẽ trừng phạt rồi tha cho ông ta”. Nhưng đám ông lại gào lớn tiếng hơn, đòi đóng đanh Chúa; và tiếng gào của họ ngày càng mạnh. Bấy giờ Philatô quyết định làm theo lời họ yêu cầu. Ông tha cho người đã bị tống ngục vì nổi loạn và giết người, như dân chúng đòi hỏi, và ông giao nộp Chúa Giêsu theo ý muốn của họ” (Lc 23,20-25) Một quan Philato sợ hãi không tìm kiếm sự thật, chỉ tay lên án và tiếng kêu gào ngày càng lớn của đám đông dữ tợn, đó là những bước đầu tiên trong cái chết của Chúa Giêsu. Ngài vô tội như con chiên, máu Ngài cứu chuộc dân. Đức Giêsu ấy đã đi qua giữa chúng ta, chữa lành và chúc phúc, giờ đây Ngài bị kết án tử hình. Chẳng có lời biết ơn nào từ phía đám đông, trái lại họ chọn Baraba. Đối với quan Philatô, sự kiện này làm ông lúng túng. Ông đổ lỗi cho đám đông và rửa tay, nhưng đồng thời ông tiếp tục bám chặt vào quyền hành. Ông giao nạp Chúa Giêsu để họ đóng đanh Ngài! Ông không muốn biết gì về Ngài. Đối với ông, vụ này như vậy là xong rồi! Sự vội vã kết án Chúa Giêsu như thế dựa trên những lời cáo buộc dễ dàng, những phán đoán hời hợt nơi dân chúng, những điều ám chỉ và những thành kiến khép kín con tim và trở thành một thứ văn hóa kỳ thị chủng tộc, loại trừ và ”gạt bỏ”, với những lá thư nặc danh và những lời vu khống kinh khủng. Những người vừa bị tố cáo, thì tức khắc bị đăng trên những trang nhất; nhưng khi họ được trả tự do, thì tin đó đăng ở phần cuối cùng! Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có biết đạt tới một lương tâm ngay thẳng và trách nhiệm, trong sáng, không bao giờ quay lưng lại với với người vô tội, nhưng can đảm liên kết để bênh vực người yếu thế, chống lại bất công và bảo vệ ở mọi người sự thật bị chà đạp hay không? Chặng thứ II: Thập giá nặng nề của cuộc khủng hoảng ”Chúa Giêsu đã mang tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài, trên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội lỗi, chúng ta sống cuộc đời công chính; chúng ta được chữa lành nhờ những vết thương của Ngài. Trước kia anh em lang thang như những chiên lạc, nhưng nay anh em được quay trở về với vị Mục Tử và là Đấng canh giữ linh hồn anh em” (1 Pr 2,24-25). Cây thập giá ấy đè nặng, vì trên đó Chúa Giêsu vác cả tội lỗi của tất cả chúng ta, Ngài lảo đảo bước đi dưới gánh nặng ấy, gánh nặng quá lớn đối với một người đơn độc (Ga 19,17). Đó cũng là gánh nặng của tất cả những bất công tạo nên cuộc khủng hoảng kinh tế, với những hậu quả nặng nề về mặt xã hội: công ăn việc làm bấp bênh, thất nghiệp, sa thải, tiền bạc cai trị thay vì phục vụ, nạn đầu cơ tài chánh, những vụ tự tử của các chủ xí nghiệp, nạn tham nhũng và cho vay ăn lãi cao, nhiều xí nghiệp di chuyển sang nước khác. Đó là thập giá nặng nề của giới lao động, bất công đè trên vai công nhân. Chúa Giêsu vác lấy thánh giá trên vai và dạy chúng ta đừng sống trong bất công nữa, nhưng với ơn Chúa, chúng ta có khả năng kiến tạo những nhịp cầu liên đới và hy vọng, để không là những con chiên lang thang hay lưu lạc trong cuộc khủng hoảng này. Vì thế, chúng ta hãy trở về cùng Chúa Kitô, vị Mục Tử và là Đấng canh giữ linh hồn chúng ta. Chúng ta cùng nhau tranh đấu cho công ăn việc làm của nhau, chiến thắng sợ hãi và lẻ loi, phục hồi sự tín nhiệm đối với chính trị và cùng nhau tìm cách khắc phục các vấn đề. Như thế thập giá sẽ nhẹ nhàng hơn, nếu ta cùng vác với Chúa Giêsu và tất cả cùng nâng thập giá lên, vì từ những vết thương của Chúa - chúng ta được chữa lành (Xc 1 Pr 2,24) Chặng thứ III: Sự mong manh làm cho chúng ta cởi mởđón tiếp ”Người đã mang lấy những đau khổ của chúng ta, đã gánh chịu những đớn đau của chúng ta; mà chúng ta lại nghĩ Người bị phạt, bị Thiên Chúa đánh đập và hạ nhục. Người đã bị đâm thấu qua vì tội lỗi chúng ta, bị đè bẹp vì những bất chính của chúng ta. Hình phạt mang lại ơn cứu độ cho chúng ta đã giáng xuống trên Người” (Is 53,4-5). Đó là một Đức Giêsu yếu đuối, mong manh, rất con người, vị mà chúng ta kinh ngạc chiêm ngắm trong chặng rất đau thương này. Nhưng chính cái ngã của Chúa, trên đất bụi, càng tỏ lộ tình thương vô biên của Ngài. Ngài bị đám đông chen lấn, bị điếc tai vì những tiếng la của binh sĩ, bị sưng phồng vì những vết thương đánh đòn, đầy cay đắng trong nội tâm vì sự vô ơn vô biên của loài người. Ngài ngã xuống đất! Nhưng trong lần ngã này, trong sự chiều theo sức mạnh và vất vả, Chúa Giêsu một lần nữa trở thành Thầy dạy Sự Sống. Ngài dạy chúng ta chấp nhận sự dòn mỏng yếu đuối của mình, đừng nản chí vì những thất bại của chúng ta, hãy chân thành nhìn nhận những giới hạn của mình. Thánh Phaolô đã nói: ”Trong tôi có ước muốn làm điều thiện nhưng tôi lại không có khả năng thực hiện ước muốn ấy” (Rm 7,18). Với sức mạnh nội tâm đến từ Chúa Cha, Chúa Giêsu giúp chúng ta đón nhận sự mong manh của người khác; không vùi dập người bị ngã, không dửng dưng đối với sa ngã. Và Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để không khép kín đối với người gõ cửa nhà chúng ta, xin tị nạn, xin phẩm giá và tổ quốc. Ý thức về sự mong manh của chúng ta, chúng ta sẽ đón nhận nơi mình sự mong manh của những người di dân, để họ tìm được an ninh và hy vọng. Thực vậy, chính trong nước dơ nơi chậu nước của nhà Tiệc Ly, nghĩa là trong sự dòn mỏng yếu đuối của chúng ta, có phản ánh khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa chúng ta! Vì thế, ”thần khí nào tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng đã đến và trở nên người phàm, thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa” (1 Ga 4,2) Chặng thứ IV: Những giọt lệliên đới ”Ông Simeon chúc phúc cho hai ông bà và nói với Maria, Mẹ Ngài: 'Này đây, Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cơ cho nhiều người ở Israel vấp ngã hay được chỗi dậy và về phần Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu qua tâm hồn Bà' (Lc 2,34-35). ”Anh chị em hãy khóc với người khóc. Hãy có cùng những tâm tình như vậy đối với nhau' (Rm 12,15-16) Cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với Mẹ Ngài đầy xúc động và nước mắt, qua đó có biểu lộ sức mạnh vô địch của tình mẫu tử vượt lên trên mọi chướng ngại và biết mở mọi con đường. Nhưng cái nhìn liên đới của Mẹ Maria càng sinh động hơn nữa, cái nhìn chia sẻ và mang lại sức mạnh cho Chúa Con. Và như thế, tâm hồn chúng ta đầy kinh ngạc khi chiêm ngắm sự cao cả của Mẹ Maria, khi Mẹ là thụ tạo, trở nên gần gũi với Thiên Chúa của Mẹ và là Chúa của Mẹ. Mẹ gồm tóm tất cả mọi nước mắt của các bà mẹ đối với những người con xa xăm, đối với những người trẻ bị kết án tử hình, bị giết hại hoặc ra chiến trường, nhất là những binh sĩ trẻ em. Chúng ta nghe thấy tiếng than xé lòng của những bà mẹ đối với con, đang sinh thì vì những thứ bệnh ung thư do việc đốt những đồ phế thải độc hại gây ra. Những dòng lệ cay đắng dường nào! Chia sẻ liên đới với những người con đang hấp hối! Những bà mẹ canh thức đêm khuya dưới ngọn đèn sáng, hồi hộp vì những người trẻ đang bị tình trạng bấp bênh đè bẹp hoặc bị ma túy và rượu nuốt chửng, nhất là những đêm thứ bẩy! Quanh Mẹ Maria, chúng ta sẽ không bao giờ là một dân tộc mồ côi! Không bao giờ bị lãng quên. Như thánh Juan Diego, Mẹ Maria cũng mơn trớn và an ủi chúng ta như những người con và nói với chúng ta: ”Tâm hồn các con đừng xao xuyến.. Mẹ là mẹ con, chẳng ở đây sao?” (Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm. 286). Chặng thứ V: Bàn tay thân hữu nâng đỡ ”Họ bắt một người đi qua đường vác đỡ thập giá cho Người. Ông tên là Simon người xứ Xirênê, thân phụ của Alessandro và Rufo” (Mc 15,21) Tình cờ, ông Simon Xirênê đi qua đó. Nhưng sự kiện này trở thành một cuộc gặp gỡ quyết định trong cuộc đời của ông. Ông từ ngoài đồng trở về. Một người lam lũ và khỏe mạnh. Vì thế, ông bị buộc bác thập giá của Chúa Giêsu, người bị kết án tử hình ô nhục (Xc Pl 2,,8). Nhưng từ sự tình cờ, cuộc gặp gỡ ấy sẽ biến thành một cuộc đi theo Chúa Giêsu một cách quyết liệt và sinh tử, mang thập giá mỗi ngày, từ bỏ chính mình (Xc Mt 16,24-25). Thực vậy, ông Simon được thánh Marcô nhắc đến như thân phụ của hai tín hữu Kitô được biết đến trong cộng đoàn Roma là Alessandro và Rufo. Một người cha chắc chắn đã in dấu trong tâm hồn các con sức mạnh của thập giá Chúa Giêsu. Vì nếu bạn giữ sự sống chặt quá, thì nó sẽ mốc meo và khô lại. Nhưng nếu bạn trao tặng, thì sự sống sẽ tươi nở và sinh đầy bông hạt cho bạn và cho toàn thể cộng đoàn! Đây chính là bí quyết thực sự chữa trị tính ích kỷ vẫn luôn rình mò chúng ta. Tương quan với người khác chữa lành chúng ta và sinh ra tình huynh đệ huyền nhiệm, chiêm niệm, biết nhìn đến sự cao cả thánh thiêng của tha nhân, biết khám phá Thiên Chúa trong mọi người, biết chịu đựng những phiền toái trong cuộc sống, bám chặt vào tình yêu của Thiên Chúa. Chỉ khi nào mở rộng con tim cho tình yêu Chúa, ta mới được thúc đẩy tìm kiếm hạnh phúc cho tha nhân qua bao nhiêu cử chỉ thiện nguyện: một đêm ở nhà thương, cho mượn mà không đòi lãi cao, một dòng nước mắt được lau khô trong gia đình, sự nhưng không chân thành, sử dụng công ích một cách sáng suốt, chia sẻ cơm bánh và công ăn việc làm, vượt thắng mọi hình thức ghen tương. Chặng thứ VI: Bà Vêrônica lau mặt Chúa Giêsu ”Tim con lập lại lời mời của Chúa: Hãy tìm kiếm nhan thánh Ta!”. Lạy Chúa, con tìm thánh nhan Ngài. Xin Ngài đừng ẩn mặt, đừng giận mà ruồng rẫy tôi tớ Ngài. Chúa là Đấng phù trợ con, xin đừng bỏ con, đừng xua đuổi con, lạy Thiên Chúa Đấng cứu độ con” (Tv 27,8-9). Chúa Giêsu lê lết bước đi, thở hổn hển. Nhưng ánh sáng trên khuôn mặt Ngài vẫn nguyên vẹn. Những vết khạc nhổ không làm lu mờ ánh sáng. Những cái tát không làm cho ánh sáng trên mặt Ngài bị tắt lịm. Khuôn mặt Ngài như bụi gai cháy đỏ, khi càng bị xúc phạm,. thì càng chiếu tỏ ánh sáng cứu độ. Những dòng lệ âm thần chảy xuống từ đôi mắt của Thầy. Ngài mang gánh nặng của sự bị bỏ rơi. Nhưng Chúa Giêsu vẫn tiến bước, không dừng lại, không ngoái lại đàng sau. Ngài chịu đựng sự đè nén. Ngài bị giao động vì sự tàn ác, nhưng Ngài biết rằng cái chết của Ngài không phải là uổng công vô ích. Bấy giờ Chúa Giêsu dừng lại trước một phụ nữ đến gặp Ngài không chút do dự. Đó là bà Veronia, hình ảnh đích thực sự dịu hiền của phụ nữ! Ở đây Chúa là hiện thân nhu cầu của chúng ta mong được sự yêu thương nhưng không, cảm thấy được yêu mến và được bảo vệ nhờ những cử chỉ ân cần săn sóc. Những săn sóc an ủi của phụ nữ ấy thật quí giá đối với Chúa Giêsu và dường như cất đi những hành vi xúc phạm mà Ngài đã chịu trong những giờ tra tấn ấy. Bà Veronica đã đánh động được Chúa Giêsu dịu dàng, chạm đến được sự tinh trắng của Ngài, không những để thoa dịu nhưng còn để tham gia vào sự đau khổ của Ngài. Trong Chúa Giêsu, bà nhìn thấy mỗi người cần an ủi dịu dàng, để đi tới tiếng rên xiết đau thương của những người ngày nay không nhận được sự giúp đỡ và hơi ấm của sự tình người. Họ chết trong cô đơn. Chặng thứ VII: Sự kinh hoàng của tù ngục và tra tấn Chúng bủa vây tôi (..) Chúng bủa vây tôi như thể bầy ong, chúng như lửa bụi gai cháy bừng bừng, nhờ Danh Chúa tôi đã trừ diệt chúng. Chúng đã xô đẩy tôi, xô thật mạnh cho ngã, nhưng Chúa đã phù trợ thân này. Sửa phạt tôi, vâng Chúa sửa phạt tôi, nhưng không nỡ để tôi phải chết. (Tv 118, 11.12 - 13.18) Quả thật, trong Chúa Giêsu đã hiện thực những lời tiên tri cổ xưa về Người Đầy Tớ khiêm hạ và vâng phục, đã mang trên vai toàn bộ lịch sử thương đau của loài người chúng ta. Và như thế, Chúa Giêsu, bị xô đẩy thô bạo, té ngã vì mệt nhọc và hành hạ, bị bạo lực vây bủa tứ bề, không còn sức chịu đựng nữa. Ngày càng cô đơn hơn, càng chìm sâu trong đen tối hơn! Tan da nát thịt, xương cốt mỏi mòn! Chúng ta nhận ra trong Người kinh nghiệm đắng cay của những tù nhân trong mọi ngục tù, với tất cả những trái ngược vô nhân của nó. Bị vây bủa, bị xô đẩy tàn bạo cho té ngã. Nhà tù ngày nay vẫn còn bị tránh xa, bị quên lãng, bị xã hội dân sự bỏ rơi. Có bao nhiêu điều phi lý của bộ máy hành chánh, có bao nhiêu chậm trễ của hệ thống tư pháp. Rồi thêm bản án đôi là sự quá tải: đây là một đau khổ trầm trọng hơn, một đàn áp bất công, làm hao mòn thịt xương. Một vài người, quá nhiều người, không thể chịu đựng nổi.. Và ngay cả khi một người anh chị em của chúng ta ra khỏi ngục tù, chúng ta vẫn xem họ là ”cựu tù nhân, và như thế, khép kín cánh cửa giúp họ tìm lại phẩm giá trước mặt xã hội và hội nhập thế giới lao động.. Nhưng trầm trọng hơn cả là hiện tượng tra tấn vẫn còn quá thịnh hành tại nhiều nơi trên trái đất, bằng mọi kiểu. Cũng như trong trường hợp Chúa Giêsu: Chính Người cũng đã bị đánh đập, bị bọn lính chế nhạo khinh dễ, tra tấn hành hạ với chiếc mão gai, roi đòn tàn nhẫn. Ngày nay, chúng ta thấy đúng làm sao câu nói của Chúa Giê Su khi bị té ngã lần đó: Ta bị tù và các ngươi đã đến thăm Ta. (Mt 25,26) Trong mọi nhà tù, bên cạnh những người bị tra tấn, đều có Người, Đức Ki Tô đau khổ, bị giam tù và tra tấn. Chúng ta chỉ có thể cùng nhau đứng dậy, với sự đồng hành của các chuyên viên, được bàn tay huynh đệ của các nhân viên thiện nguyện hỗ trợ và được nâng đỡ bởi một xã hội dân sự biết ôm lấy cả mọi bất công bên trong những bức tường nhà giam. Chặng thứ VIII: Chia sẻ chứkhông thương hại. Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu. (Lc 23, 28) Như những ngọn đuốc cháy sáng, có bao nhiêu khuôn mặt phụ nữ xuất hiện hai bên con đường khổ nạn. Những người nữ trung thành và can đảm, không sợ hãi vì bọn lính hay kích động vì những vết thương của Thầy nhân lành. Họ sẵn sàng gặp gỡ và ủi an Người. Chúa Giêsu đứng đó, trước mặt họ. Có những người chà đạp Chúa khi Người ngã gục mỏi mòn trên mặt đất. Nhưng các phụ nữ đứng đó, sẵn sàng dâng tặng Chúa nhịp đập nồng ấm của một con tim không thể kềm hãm được. Các bà đã đứng nhìn Người từ xa, nhưng rồi cố tiến đến gần, như mỗi người bạn, mỗi người anh chị em đều làm khi thấy người mình yêu đang gặp khó khăn. Chúa Giêsu khích động vì tiếng khóc đắng cay của họ, nhưng mời gọi họ đừng tan nát con tim khi thấy Chúa bị hành hạ đọa đày, đừng khóc lóc thở than nhưng hãy trở thành những người có lòng Tin. Người kêu mời một niềm đau được chia sẻ chứ không muốn một lòng thương hại cằn cỗi và đẫm nước mắt. Không còn những than van khóc lóc, nhưng là khao khát tái sinh, nhìn thẳng về đàng trước, tiến bước với tràn đầy lòng Tin và hy vọng hướng về rạng đông chan hòa ánh sáng trên đầu những ai đang trên đường hướng về Chúa. Chúng ta hãy khóc cho chính mình nếu chúng ta còn chưa tin vào Đức Giêsu, Người đã loan báo với chúng ta Nước Trơi Cứu chuộc. Chúng ta hãy khóc cho những tội lỗi chưa xưng thú của chính chúng ta. Và còn nữa, chúng ta hãy khóc cho những người nam chỉ biết trút mọi bạo lực chứa đựng trong lòng trên những phụ nữ. Chúng ta hãy khóc cho những phụ nữ nô lệ của sự sợ hãi và lạm dụng. Nhưng đấm ngực than van và thương hại thôi thì không đủ. Chúa Giêsu đòi hỏi nhiều hơn nữa. Người đòi hỏi phải trấn an các phụ nữ như Chúa đã làm, phải yêu thương họ như một món quà không thể xúc phạm đến của toàn thể nhân loại. (Một món quà) Để nuôi dạy con cái chúng ta, trong phẩm giá và trong hy vọng. Chặng thứ IX: Chiến thắng sự luyến tiếc não nùng không tốt Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? (...) Nhưng trong tất cả mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta (Rm 24, 35-37) Thánh Phaolô liệt kê những thử thách của mình, nhưng biết rõ là trước thánh nhân, Chúa Giêsu đã trải qua những thử thách ấy; trên đường lên Núi Sọ, Chúa đã té ngã một, rồi hai rồi ba lần. Tan nát bởi những hành hạ, bách hại, bởi gươm đao, bị gỗ thánh giá đè bẹp. Kiệt quệ! Dường như Chúa thốt lên, như chúng ta trong những lúc tối tăm u ám: Tôi không còn chịu nổi nữa! Đó là tiếng kêu của những kẻ bị đàn áp bách hại, của người hấp hối, của các bệnh nhân cuối đời, của những ai đang bị gánh nặng đè bẹp. Nhưng trong Chúa Giêsu, cũng thể hiện rõ sức mạnh của Người: ”Có làm khổ, Người cũng xót thương. Chúa cho chúng ta thấy rằng trong đau khổ, luôn luôn có lòng Chúa xót thương, vượt lên trên mọi đau khổ và thấy trước được trong hy vọng. Cũng như là Chúa Cha khôn ngoan tỉa bớt những nhánh để cây sinh trái lành (Gv 15,8). Không bao giờ Người tỉa để chặt bỏ cây, nhưng để cây đơm hoa kết trái tốt lành hơn. Hay như một sản phụ sắp đến giờ sinh con: bà đau đớn, rên rỉ, quằn quại khi sinh. Nhưng bà biết rằng đó là những cơn đau của sự sống mới, của một mùa xuân nở đầy hoa chính nhờ việc tỉa cành ấy. Chiêm ngắm hình ảnh Chúa ngã gục, nhưng rồi lại chỗi dậy được, giúp chúng ta biết chiến thắng những khép kín mà sự sợ hãi tương lai đóng ấn trong con tim chúng ta, đặc biệt trong thời đại khủng hoảng ngày nay. Chúng ta sẽ chiến thắng được sự luyến tiếc quá khứ không tốt, sự thuận tiện của chủ nghĩa bất động, của ”trước giờ vẫn như vậy!Ể. Hình ảnh Chúa Giêsu loạng choạng và té ngã, nhưng rồi lại đứng dậy, đã trở thành sự chắc chắn của niềm hy vọng một khi được dưỡng nuôi bằng lời cầu nguyện liên lỉ, sẽ nảy sinh từ chính trong thử thách chứ không sau thử thách hoặc không có thử thách. Chúng ta toàn thắng, nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta Chặng thứ X: Hiệp nhất và phẩm giá Đóng đinh Chúa Giêsu vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm 4 phần, mỗi người một phần, họ lấy cả áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. Vậy họ nói với nhau: Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được. Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: ”Áo xống tôi, họ đem chia chác, cả áo dài cũng bắt thăm luôn. Đó là điều lính tráng đã làm. (Ga 19, 23.24) Không một miếng vải nào được bọn lính để lại để che thân thể Chúa Giêsu. Họ lột trần Người. Chúa không còn áo xống hay áo dài, không còn quần áo gì cả. Họ lột trần Người như là hành vi hạ nhục cuối cùng. Thân xác Người chỉ còn được che đậy bằng dòng máu tuôn trào ra từ những vết thương sâu rộng. Chiếc áo dài được giữ nguyên vẹn là hình ảnh của sự hiệp nhất của Giáo Hội, sự hiệp nhất đang được cố gắng tìm lại trên con đường kiên nhẫn, trong một nền hòa bình dày công xây dựng từng ngày, trên một khung cửi dệt tấm vải bằng sợi vàng của tình huynh đệ trong niềm hòa giải và trong sự tha thứ lẫn nhau.. Trong Chúa Giêsu, Đấng vô tội, bị lột trần và bị tra tấn, chúng ta nhìn nhận phẩm giá bị xúc phạm của tất cả mọi người vô tội, đặc biệt là của những kẻ bé mọn. Thiên Chúa không hề can thiệp, ngăn cản không để cho thân thể trần trụi của Người bị phơi bày trên thập giá. Người đã làm như thế để chuộc lại mọi lạm dụng, được che đậy cách bất công, và chứng tỏ rằng Người, Thiên Chúa, chắc chắn đứng về phía những nạn nhân cách không thể quay lui được. Chặng thứ XI: Tại giường các bệnh nhân ”Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau, xem ai được cái gì. Lúc chúng đóng đinh Người là giờ thứ ba. Bản án xử tội Người viết rằng: ”Vua người Dothái”. Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh hai tên cướp, một đứa bên phải, một đứa bên trái. Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Người bị liệt vào hạng những tên phạm pháp” (Mc 15,24-28) Và họ đã đóng đinh Người! Hình phạt dành cho những người bị tước quyền công dân, những tên phản bội, những nô lệ nổi loạn. Đây là một bản án dành cho Chúa Giêsu của chúng ta: những đinh nhọn xù xì, nỗi đau khổ tê buốt, nỗi sầu buồn của Mẹ, sự nhục nhã vì bị xếp ngang hàng với hai tên trộm cướp, bị quân lính tước hết áo để chia nhau, bị những người đi ngang qua chế giễu: ”Nó cứu được người khác nhưng không thể tự cứu mình! Xuống khỏi thập giá đi thì chúng tôi sẽ tin vào ông” (Mt 27,42) Họ đã đóng đinh Người! Giêsu đã không đi xuống khỏi thập giá, đã không từ bỏ thập giá. Ngài ghi nhớ và vâng phục ý Cha cho đến cùng. Ngài yêu và Ngài tha thứ. Giống như Giêsu, ngày nay, rất nhiều anh chị em của chính ta đang bị đóng đinh vào giường bệnh, trong bệnh viện, nhà thương, trong gia đình. Đó là thời gian thử thách, những ngày cay đắng của cô đơn và thậm chí là thất vọng: ”Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài lại bỏ con?” (Mt 27,46) Bàn tay của chúng ta chưa bao giờ bị đâm qua, nhưng luôn luôn ở kề bên, an ủi và nâng đỡ những bệnh nhân, nâng họ dậy từ giường bệnh. Căn bệnh xảy đến chẳng bao giờ xin phép ai, nó đến bất thình lình. Đôi khi nó gây khó chịu, nó giới hạn phạm vi của chúng ta, thử thách niềm hy vọng của chúng ta. Nó rất cay đắng. Chỉ khi nào chúng ta thấy bên cạnh mình có ai đó lắng nghe chúng ta, gần gũi chúng ta, ngồi bên giường chúng ta... căn bệnh mới có thể trở thành trường dạy khôn ngoan vĩ đại, trở thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa Nhẫn Nại. Khi nào có ai đó mang trên mình những nỗi đau vì tình yêu thì ngay nơi đêm tối của khổ đau vẫn bừng lên ánh sáng vượt qua của Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Điều đối với con người là một bản án cũng có thể biến thành một hy lễ cứu chuộc vì lợi ích cho cộng đoàn và gia đình chúng ta. Các thánh đã cho chúng ta thấy điều đó. Chặng thứ XII: Bẩy lời than van ”Sau đó, Giêsu Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: ”Tôi khát!” Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: ”Thế là đã hoàn tất!” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” (Ga 19,28-30). Bẩy lời cuối cùng của Giêsu trên thập giá là một kiệt tác của niềm hy vọng. Một cách từ từ từng bước một, Đức Giêsu đã đi qua tất cả sự tăm tối của đêm đen, để làm hài lòng Cha, tin tưởng trong vòng tay Cha. Đó là tiếng than van của người đang hấp hối, tiếng kêu của người tuyệt vọng, lời cầu cứu của người lạc mất. Là chính Đức Giêsu đó! ”Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Đây là tiếng kêu của Giob, của những ai đang bị vận rủi bủa vây. Thiên Chúa im lặng. Im lặng vì lời đáp trả của Ngài đã ở đó, trên cây thập giá: chính Ngài, Đức Giêsu, là lời đáp trả của Thiên Chúa, Lời vĩnh cửu đã nhập thể vì tình yêu. ”Xin hãy nhớ đến tôi...” (Lc 23,42). Lời kêu cứu của người phạm pháp cũng đang bị tử hình bên kia đã đi vào con tim của Giêsu, nghe vọng vang từ chính nỗi đau của Người. Và Giêsu đã lắng nghe lời kêu xin đó: ”Hôm nay, anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với tôi”. Những nỗi đau của người khác thường giải thoát chúng ta vì nó khiến chúng ta ra khỏi chính mình. ”Này bà, đây là con bà!...” (Ga 19,26). Chính mẹ của Ngài, Mẹ Maria, đang cùng với Gioan đứng dưới chân thập giá, đã phá tan nỗi sợ. Một sự dịu dàng và hy vọng đổ đầy lòng mẹ. Giêsu không hề cảm thấy đơn độc chút nào. Cũng giống như chúng ta, nếu bên cạnh giường bệnh có ai đó mà chúng ta thương mến! Một cách trung tín. Cho đến cùng. ”Tôi khát” (Ga 19,28). Giống như đứa trẻ xin mẹ mình cái gì đó để uống; giống như bệnh nhân bị cơn sốt làm nóng người... Cơn khát này của Giêsu là cơn khát của tất cả những ai đang khát khao sự sống, tự do, công bình. Và cơn khát lớn nhất là khát Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối lớn hơn chúng ta, đang khát ơn cứu độ của chúng ta. ”Mọi sự đã hoàn tất!” (Ga 19,30). Tất cả: mọi lời nói, mọi cử chỉ, mọi lời tiên báo, mọi khoảnh khắc của đời sống Giêsu. Tấm thảm hoa đã hoàn thành. Hàng ngàn sắc màu của tình yêu giờ đây tỏa ra nét đẹp lấp lánh. Chẳng có gì vô ích. Chẳng có gì bị vứt bỏ. Tất cả đều trở thành tình yêu. Tất cả đều được dành cho tôi, cho bạn! Ngay cả cái chết của Ngài cũng có một ý nghĩa! ”Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23,24). Giờ đây, một cách anh hùng, Đức Giêsu thoát ra khỏi nỗi sợ chết. Vì nếu chúng ta sống trong tình yêu nhưng không, tất cả sẽ là sự sống. Sự tha thứ sẽ đổi mới, chữa lành, biến đổi và an ủi! Làm nên một dân mới. Chấm dứt chiến tranh. ”Lạy Cha, trong tay Cha, con xin phó thác hồn con” (Lc 23,46). Nỗi thất vọng không còn nữa, nhưng chỉ còn niềm tin tưởng tràn đầy trong tay Cha, tựa mình vào tim Cha. Bởi vì trong Thiên Chúa, từng mảnh phần cuối cùng sẽ được gắn lại với nhau trong sự hiệp nhất! Chặng thứ XIII: Tình yêu mạnh hơn sự chết ”Chiều đến, có một người giàu sang tới. Ông này là người thành Arimathê, tên là Giôxép, và cũng là môn đệ Đức Giêsu. Ông đến gặp ông Philatô để xin thi hài Đức Giêsu. Bấy giờ tổng trấn Philatô ra lệnh trao trả thi hài cho ông. (Mt 27,57- 58). Trước khi được mai táng trong mồ, Đức Giêsu rốt cuộc cũng được trao cho mẹ Ngài. Đó là hình ảnh con tim bị đâm thâu, nói với chúng ta rằng cái chết không ngăn cản được nụ hôn cuối cùng của người mẹ dành cho con mình. Bên xác Giêsu, Mẹ Maria tiến sát bên Ngài bằng một cái ôm trọn vẹn dành cho Ngài. Hình ảnh này thường được gọi là ”Lòng Thương Xót”. Thật đau buồn nhưng nó cho thấy cái chết không phá vỡ được tình yêu, vì tình yêu thì mạnh hơn sự chết! Tình yêu thuần khiết thì luôn còn mãi. Đêm đã đến. Trận chiến đã phân định thắng thua rạch ròi. Tình yêu vẫn còn nguyên trọn vẹn. Những ai sẵn sàng hiến mạng sống vì Đức Kitô, sẽ lại tìm thấy được nó, một sự sống được biến đổi sau cái chết. Máu và nước mắt đã hòa lẫn trong tấn thảm kịch này. Cũng như cuộc sống của gia đình chúng ta, đôi khi cũng bị vây hãm bởi những mất mát bất ngờ và đau xót, với khoảng trống không thể khỏa lấp được, đặc biệt khi con cái của chúng ta qua đời. Lòng thương xót có nghĩa là biến anh chị em thành người thân cận, những người đang trong cơn đau buồn và cảm thấy bất an. Thật là một lòng bác ái cao cả khi ta biết chăm sóc cho những ai đang chịu đau khổ nơi thân xác tổn thương, nơi tinh thần sa sút, nơi linh hồn tuyệt vọng. Tình yêu bao giờ cũng là một bài học cao cả mà Đức Giêsu và Mẹ Maria để lại cho chúng ta. Đó là sứ mạng an ủi anh chị em trong cuộc sống hàng ngày, một sứ mạng được trao ban trong chúng ta trong cái ôm thành tín giữa Đức Giêsu chịu chết và Đức Mẹ sầu bi của Ngài. Chặng thứ XIV: Ngôi mộ mới ”Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Dothái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giêsu ở đó.” (Ga 19,41-42) Khu vườn, nơi có ngôi mộ mai táng Đức Giêsu, nhắc nhớ chúng ta về một khu vườn khác: Vườn Êđen. Một khu vườn đã bị mất đi nét đẹp và trở thành nỗi sầu khổ, nơi chết chóc và không còn sự sống nữa bởi sự bất tuân của con người. Những nhành cây hoang dại vốn ngăn cản chúng ta hít thở thánh ý Thiên Chúa, cũng như sự gắn bó với tiền tài, danh vọng, lối sống phóng đãng, giờ đây đã bị cắt bỏ và đính chặt vào gỗ cây Thập Giá. Đây là khu vườn mới: cây thánh giá được cắm vào thế gian! Trên cao ấy, Đức Giêsu đã mang lại tất cả cho cuộc sống. Một lần nữa, từ nơi hố thẳm địa ngục, nơi Satan đã giam giữ rất nhiều linh hồn, tất cả mọi sự đã bắt đầu được phục hồi. Ngôi mộ tượng trưng cho cái kết của con người xưa cũ. Cũng giống như Giêsu và tất cả chúng ta, Thiên Chúa đã không để cho con cái mình phải chịu hình phạt là cái chết đời đời. Trong cái chết của Đức Kitô, vương quyền của sự dữ, thứ vương quyền đặt nền trên tham vọng và con tim cứng cỏi, bị bẻ gãy. Cái chết sẽ tước đoạt hết mọi thứ của chúng ta, làm cho chúng ta hiểu rằng đấy là lúc chúng ta phơi bày ra điểm dừng của sự hiện hữu của chúng ta trên thế gian này. Nhưng trước thân xác Đức Giêsu, một thân xác chịu mai táng trong mồ, chúng ta ý thức được chúng ta là ai. Chúng ta là những thụ tạo cần đến Đấng Tạo Hóa của chúng ta để không phải chết. Sự thinh lặng đang phủ kín khu vườn cho phép chúng ta lắng nghe được thanh âm của làn gió nhẹ: ”Ta là Đấng hằng sống và ta luôn ở với các con” (Xh 3,14) Tấm màn trướng trong đền thờ đã bị xé toạt ra. Cuối cùng, chúng ta cũng được thấy dung nhan của Thiên Chúa chúng ta. Chúng ta biết được tên đầy đủ của Người: lòng thương xót và sự trung tín, để ta không còn phải bối rối sợ hãi dù khi phải đối diện với cái chết vì Con Thiên Chúa đã được giải thoát giữa những người chết (X. Tv 88,6)              (RadioVaticana 17.04.2014)  
Đức Thánh Cha Phanxicô Cử Hành Lễ Làm Phép Dầu   VATICAN. ĐTC Phanxicô mời gọi các linh mục sống niềm vui được xức dầu để phục vụ, và sống tinh thần thanh bần, trung thành và vâng phục. Ngài đưa ra lời nhắn nhủ này trong bài giảng thánh lễ làm phép dầu sáng thứ năm Tuần Thánh 17-4-2014 tại Đền thờ Thánh Phêrô. Đồng tế với ĐTC có 24 Hồng Y, hơn 30 GM và khoảng 1 ngàn linh mục, trước sự hiện diện của 7 ngàn tín hữu. Trước khi thánh lễ bắt đầu, các vị tư tế đã cùng với các tín hữu hiện diện đã hát kinh Giờ Ba. Trong bài giảng sau bài Tin Mừng (xin xem phần lớn toàn văn bài giảng của ngài dưới đây), ĐTC đã diễn giảng về đề tài ”Được xức dầu hoan lạc để xức bằng dầu hoan lạc”. Ngài nói: ”Thiên Chúa đã xức dầu cho chúng ta trong Đức Kitô, Ngài xức bằng dầu hoan lạc và việc xức dầu này mời gọi chúng ta hãy đón lấy và lãnh nhận hồng ân cao cả này: niềm vui, niềm hoan lạc linh mục.” ĐTC trình bày 3 đặc tính đầy ý nghĩa trong niềm vui linh mục: đó là một niềm vui xức dầu cho chúng ta - không làm cho chúng ta trở thành yểu điệu, khoe khoang và tự phụ-; đó là một niềm vui không bị hư nát và là một niềm vui thừa sai, chiếu tỏa cho và thu hút tất cả mọi người. Đặc biệt về đặc tính thứ ba này, ĐTC nói: ”Niềm vui của linh mục được đặt trong quan hệ thân mật với dân thánh trung thành của Thiên Chúa vì đó là một niềm vui có đặc tính truyền giáo cao độ. Việc xức dầu cho linh mục là để xức dầu dân thánh trung thành của Thiên Chúa: để rửa tội và thêm sức, để săn sóc và thánh hiến, để chúc lành, để an ủi và loan báo Tin Mừng. ĐTC nhận xét rằng: niềm vui của LM được chính đoàn chiên của mình bảo tồn”. Cả trong những lúc buồn sầu, khi mọi sự dường như trở nên u tối và sự cô lập choáng váng cám dỗ chúng ta, trong những lúc lãnh đạm và chán nản mà nhiều khi chúng ta gặp phải trong đời linh mục - và tôi cũng đã trải qua những lúc như thế-, cả trong những lúc ấy, dân Chúa có khả năng bảo tồn niềm vui, có khả năng bảo vệ linh mục, an ủi, giúp linh mục cởi mở con tim và tìm lại được một niềm vui.” ĐTC cũng nhắc đến 3 yếu tố canh giữ và bảo vệ niềm vui của LM, đó là thanh bần, trung thành và vâng phục. Sau cùng, ngài đặc biệt cầu cho các bạn trẻ đón nhận tiếng Chúa gọi, các tân linh mục, các LM đứng tuổi và các vị cao niên. Ngài nói: ”Xin Chúa gìn giữ sự sâu xa và sự trưởng thành khôn ngoan của niềm vui nơi những linh mục đứng tuổi. Chúng ta hãy biết cầu nguyện như ngôn sứ Neemia: niềm vui của Chúa là sức mạnh của tôi (Xc Ne 8,10).” Sau bài giảng của ĐTC, các HY, GM và LM hiện diện đã cử hành nghi thức lập lại những lời đã hứa khi chịu chức linh mục. Tiếp đến, ngài đã làm phép dầu dự tòng, dầu bệnh nhân và dầu thánh hiến (Crisma), cũng gọi là dầu hương thảo. {youtube}UEDDVHzGsJ0{/youtube} Nghi thức này cũng nhấn mạnh mầu nhiệm Giáo Hội như bí tích phổ quát của Chúa Kitô, thánh hóa mọi thực tại và hoàn cảnh của cuộc sống. Vì thế, ngoài dầu thánh hiến, còn có nghi thức làm phép dầu dự tòng cho những người chiến đấu để chiến thắng ác thần, hầu lãnh nhận những nghĩa vụ từ bí tích rửa tội, và sau cùng dầu bệnh nhân, để xức cho những người ở trong tình trạng bệnh tật đang thể hiện nơi thân xác mình những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn cứu độ của Chúa Kitô. Và thế là từ Đầu, hương thơm tốt lành của Chúa Kitô toả lan cho mọi chi thể của Giáo Hội và lan ra thế giới. Lời cầu nguyện này của Chúa Giêsu xuất hiện 2 lần dưới hình thức hơi được thay đổi. Chúng ta phải nghe cả hai lần với tất cả sự chú ý, để bắt đầu hiểu ít là được phần nào điều cao cả đang được diễn ra. ”Xin Cha thánh hiến họ trong sự thật”, rồi Chúa Giêsu nói thêm: 'Lời Cha là sự thật”. Vì vậy, các môn đệ được lôi kéo vào trong nội tâm của Thiên Chúa nhờ sự chìm đắm trong Lời Chúa. Có thể nói, Lời Chúa là sự thanh tẩy làm cho các môn đệ được thanh sạch, là quyền năng sáng tạo biến đổi các môn đệ trong Thiên Chúa. Thánh lễ làm phép dầu kéo dài 1 giờ 45 phút. Bài giảng của Đức Thánh Cha ”Anh em thân mến trong chức linh mục! Ngày thứ năm Tuần Thánh hôm nay, ngày mà Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta đến tột cùng (Xc Ga 13,1), chúng ta tưởng niệm ngày hạnh phúc Chúa lập chức linh mục và ngày chúng ta chịu chức linh mục. Chúa đã xức dầu cho chúng ta trong Đức Kitô, Ngài xức bằng dầu hoan lạc và việc xức dầu này mời gọi chúng ta hãy đón lấy và lãnh nhận hồng ân cao cả này: niềm vui, niềm hoan lạc linh mục. Niềm vui của chức linh mục là một thiện ích quí giá không những cho đương sự nhưng còn cho toàn thể dân trung thành của Thiên Chúa: dân trung thành mà linh mục được kêu gọi đến giữa họ để được xức dầu và được sai đi để xức dầu cho dân. Được xức dầu hoan lạc để xức bằng dầu hoan lạc Niềm vui linh mục có nguồn mạch từ Tình Thương của Chúa Cha và Chúa muốn rằng niềm vui của Tình Thương này ở ”trong chúng ta” và ”được viên mãn” (Ga 15,11). Tôi vui mừng nghĩ đến niềm vui khi chiêm ngắm Đức Mẹ: Đức Maria, ”người Mẹ của Tin Mừng sinh động, là nguồn vui cho những người bé nhỏ” (Tông huấn 'Niềm Vui Phúc âm', 288) và tôi tin là chúng ta không nói quá khi khẳng định rằng linh mục là một người rất bé nhỏ: hồng ân cao cả vô biên được ban cho chúng ta để thi hành sứ vụ, xếp chúng ta vào số những người bé nhỏ nhất trong loài người. Linh mục là người nghèo nàn nhất trong nhân loại nếu Chúa Giêsu không làm cho linh mục được phong phú nhờ cái nghèo của Ngài; linh mục là người đầy tớ vô ích nhất nếu Chúa Giêsu không kiên nhẫn giáo huấn như Ngài đã làm với thánh Phêrô; linh mục là người yếu thế nhất trong số các Kitô hữu nếu vị Mục Tử Nhân Lành không củng cố linh mục giữa đoàn chiên. Không ai bé nhỏ hơn một linh mục bị bỏ mặc cho sức riêng của mình; vì thế kinh nguyện của chúng ta để chống lại mưu chước của ma quỉ chính là kinh nguyện của Mẹ chúng ta: tôi là linh mục vì, trong lượng nhân lành của Ngài, Chúa đã nhìn đến sự bé nhỏ của tôi (XcLc 1,48). Và từ sự bé nhỏ ấy chúng ta đón nhận niềm vui của mình. Tôi tìm thấy 3 đặc tính đầy ý nghĩa trong niềm vui linh mục của chúng ta: đó là một niềm vui xức dầu cho chúng ta (không làm cho chúng ta trở thành yểu điệu, khoe khoang và tự phụ), đó là một niềm vui không bị hư nát và là một niềm vui thừa sai, chiếu tỏa cho và thu hút tất cả mọi người, bắt đầu ngược lại, từ những người xa xăm nhất. - Một niềm vui xức dầu chúng ta. Nghĩa là sự xức dầu ấy thấu nhập tận thâm tâm chúng ta, uốn nắn con tim chúng ta và củng cố bằng bí tích. Các dấu hiệu phụng vụ lễ truyền chức nói với chúng ta về một ước muốn từ mẫu mà Giáo Hội muốn chuyển đạt và thông truyền tất cả những gì mà Chúa đã ban cho chúng ta: cử chỉ đặt tay, xức dầu hương thảo, mặc phẩm phục thánh, tham gia ngay vào việc truyền phép đầu tiên.. Ơn thánh làm cho chúng ta được tràn đầy và lan tỏa toàn vẹn, dồi dào và sung mãn nơi mỗi linh mục. Được xức dầu đến tận xương tủy.. và niềm vui của chúng ta, trào ra từ nội tâm, chính là âm vang của sự xức dầu ấy. - Một niềm vui không thể bị hư hỏng. Hồng ân toàn vẹn mà không ai có thể tước mất hoặc thêm thắt, chính là nguồn mạch không ngừng mang lại niềm vui: một niềm vui không thể hư mất, mà Chúa đã hứa là không ai có thể tước đoạt (Xc Ga 16,22). Niềm vui ấy có thể 'ngái ngủ' hoặc bị tội lỗi hoặc những lo lắng bận bịu của cuộc sống bóp nghẹt, nhưng xét cho cùng niềm vui ấy vẫn còn nguyên vẹn như than hồng dưới lớp tro, luôn luôn có thể được khơi dậy. Lời nhắn nhủ của thánh Phaolo với Timothê vẫn luôn có tính chất thời sự: Cha nhắc nhở con hãy khơi dậy ngọn lửa hồng ân của Thiên Chúa trong con do việc đặt tay của cha (Xc 1 Tm 1,6). Một niềm vui thừa sai. Đặc tính thứ ba này tôi muốn chia sẻ và nhấn mạnh một cách đặc biệt: niềm vui của linh mục được đặt trong quan hệ thân mật với dân thánh trung thành của Thiên Chúa vì đó là một niềm vui có đặc tính truyền giáo cao độ. Việc xức dầu cho linh mục là để xức dầu dân thánh trung thành của Thiên Chúa: để rửa tội và thêm sức, để săn sóc và thánh hiến, để chúc lành, để an ủi và loan báo Tin Mừng. Và vì là một niềm vui có ảnh hưởng khi vị mục tử ở giữa đoàn chiên - (kể cả trong kinh nguyện thinh lặng, vị mục tử thờ lạy Chúa Cha giữa đoàn chiên của mình)- là một ”niềm vui được chính đoàn chiên của mình bảo tồn”. Cả trong những lúc buồn sầu, khi mọi sự dường như trở nên u tối và sự cô lập choáng váng cám dỗ chúng ta, trong những lúc lãnh đạm và chán nản mà nhiều khi chúng ta gặp phải trong đời linh mục (và tôi cũng đã trải qua những lúc như thế), cả trong những lúc ấy, dân Chúa có khả năng bảo tồn niềm vui, có khả năng bảo vệ linh mục, an ủi, giúp linh mục cởi mở con tim và tìm lại được một niềm vui. ”Niềm vui được đoàn chiên bảo tồn” và cũng canh giữ nhờ 3 người em quây quần, bảo vệ và bênh đỡ: người em khó nghèo, người em trung thành và người em vâng phục. - Niềm vui linh mục là một niềm vui có người em là đức thanh bần. Linh mục nghèo niềm vui phàm tục: linh mục đã từ bỏ rất nhiều! Linh mục là người đã cho tha nhân rất nhiều, và vì nghèo, nên linh mục phải xin niềm vui ấy từ Chúa và từ dân trung thành của Chúa. Linh mục không được tự ban cho mình niềm vui ấy. Chúng ta biết rằng dân của chúng ta thật là quảng đại trong việc biết ơn các linh mục vì những cử chỉ ban phúc lành bé nhỏ nhất, đặc biệt là các bí tích. Khi nói về cuộc khủng hoảng căn tính linh mục, nhiều người không để ý rằng căn tính ấy giả thiết phải có sự thuộc về ai. Sẽ không có căn tính - và vì thế không có niềm vui sống - nếu không có thái độ tích cực thuộc về dân trung thành của Chúa (Xc ”Niềm vui Phúc Âm”, 268). Linh mục nào tự phụ mình tìm được căn tính linh mục bằng cách nhìn vào nội tâm của mình mà thôi, thì có thể sẽ không tìm được điều gì khác ngoài những dấu hiệu bảo ”hãy ra ngoài”: ra khỏi chính con người của bạn, hãy ra ngoài để đi tìm Thiên Chúa trong sự thờ lạy, hãy ra ngoài và trao cho dân điều đã được ủy thác cho bạn, và dân của bạn sẽ lo liệu cho bạn cảm thấy và nếm hưởng bạn là ai, bạn tên là gì, đâu là căn tính của bạn, và dân sẽ làm cho bạn vui mừng gấp trăm lần như Chúa đã hứa cho các tôi tớ của Ngài. Nếu bạn không ra khỏi chính mình, thì dầu sẽ bị ôi và việc xức dầu không thể mang lại kết quả phong phú. Ra khỏi chính mình đòi phải từ bỏ mình, và bao hàm sự thanh bần. - Niềm vui linh mục là một niềm vui có em là lòng trung thành. Không phải theo nghĩa tất cả chúng ta sẽ trở nên ”không vết tỳ ố” (Ước gì chúng ta được như vậy nhờ ơn Chúa!) vì tất cả chúng ta đều là người tội lỗi, nhưng đúng hơn theo nghĩa một sự trung thành luôn mới mẻ đối với vị Hôn Thê duy nhất là Giáo Hội. Đây chính là chìa khóa của sự phong phú. Các con cái tinh thần mà Chúa ban cho mỗi linh mục, những người mà linh mục rửa tội, những gia đình mà ngài chúc lành và giúp họ tiến bước, những bệnh nhân mà linh mục nâng đỡ, những người trẻ mà linh mục dạy giáo lý và huấn luyện, những người già mà linh mục cứu giúp .. họ là ”vị Hôn Thê” mà linh mục vui mừng đối xử như người yêu ưu tiên và duy nhất và luôn luôn chung thủy. Đó là Giáo Hội sinh động, với tên tuổi, mà linh mục chăm sóc trong giáo xứ hoặc trong sứ vụ được ủy thác, chính Giáo Hội ấy mang lại niềm vui cho linh mục khi linh mục trung thành, khi linh mục làm tất cả những gì phải làm và bỏ đi tất cả những gì phải bỏ miễn là ở lại giữa đoàn chiên mà Chúa đã ủy thác cho linh mục: ”Hãy chăn dắt các chiên của Thầy” (Ga 21,16.17). Niềm vui linh mục là niềm vui có người em là đức vâng phục. Có thể nói đó là vâng phục Giáo Hội theo phẩm trật được ban cho chúng ta không những trong lãnh vực bên ngoài nhất của đức vâng phục: giáo xứ mà chúng ta được gửi đến, các năng quyền của sứ vụ, trách vụ đặc thù.. cả sự kết hiệp với Thiên Chúa Cha, từ đó nảy sinh mọi tình phụ tử. Cả sự vâng phục Giáo Hội trong việc phục vụ: sẵn sàng và mau mắn phục vụ tất cả mọi người, luôn luôn và theo thể thức tốt đẹp hơn, theo hình ảnh ”Đức Mẹ sẵn sàng (Xc Lc 1,39) chạy đến giúp đỡ bà chị họ và quan tâm đến cả việc bếp núc ở tiệc cưới Cana trong đó rượu bị thiếu. Sự sẵn sàng của linh mục làm cho Giáo Hội trở thành căn nhà có những cánh cửa mở rộng, là nơi mương náu cho những người tội lỗi, là tổ ấm cho những người sống ở đường phố, là nhà săn sóc các bệnh nhân, nơi cắm trại cho người trẻ, là nơi học giáo lý cho các trẻ em lớp xưng tội rước lễ lần đầu.. Nơi nào dân Chúa có ước mong hoặc nhu cầu, nơi ấy có linh mục biết lắng nghe, và cảm thấy một mệnh lệnh yêu thương của Chúa Kitô, Đấng sai linh mục đến đáp ứng, với lòng từ bi, những nhu cầu hoặc nâng đỡ những ước muốn tốt lành với lòng bác ái sáng tạo. Người được gọi hãy biết rằng trong thế giới này có một niềm vui chân thành và viên mãn: niềm vui được đón nhận nơi dân mà linh mục yêu thương và để được sai đến với họ như người ban phát các hồng ân và sự an ủi của Chúa Giêsu, vị Mục Tử Nhân Lành duy nhất, đầy lòng từ bi thương xót đối với mọi người bé nhỏ và bị gạt ra ngoài lề trên trái đất này, những người vất vả và bị đè nén như những con chiên không người chăn dắt; Vị Mục Tử ấy đã muốn cho nhiều người được tham gia sứ vụ của Ngài để ở lại và hoạt động như chính Ngài trong các linh mục, để mưu ích cho dân Ngài. Trong ngày thứ năm của chức linh mục này, tôi xin Chúa Giêsu làm cho nhiều người trẻ khám phá thấy một tâm hồn nồng nhiệt khiến họ có được một niềm vui bừng cháy vừa khi một người can đảm mau mắn và vui mừng đáp lại tiếng Chúa gọi. Trong ngày Thứ năm linh mục này, tôi xin Chúa Giêsu bảo tồn ánh mắt vui mừng của các tân linh mục, họ ra đi để tận tụy phục vụ thế giới này, để bị tiêu hao giữa dân trung thành của Thiên Chúa, xin Chúa cho các linh mục ấy vui mừng dọn bài giảng đầu tiên, thánh lễ mở tay, cử hành bí tích rửa tội đầu tiên, giải tội lần đầu tiên... Đó là niềm vui được kinh ngạc chia sẻ kho tàng Phúc Âm lần đầu tiên trong tư cách là những người được xức dầu và cảm thấy rằng đối lại, dân trung thành xức dầu cho linh mục theo một thể thức khác: họ cúi đầu xin linh mục chúc lành cho họ, xiết tay linh mục, đưa con cái họ đến gần linh mục và xin đặt tay trên chúng.. Xin Chúa giữ gìn nơi các linh mục trẻ niềm vui được khởi hành, làm mọi sự như điều mới mẻ, niềm vui tiêu hao cuộc sống vì Chúa. Trong ngày thứ năm linh mục này, tôi cầu xin Chúa củng cố niềm vui linh mục nơi những người đã thi hành sứ vụ này trong nhiều năm trời. Niềm vui ấy không biến mất khỏi đôi mắt, đậu trên vai của những người đang vác gánh nặng của sứ vụ, những linh mục đã bắt mạch công việc, đang dồn toàn lực và tái võ trang: ”họ đổi không khí” như các thể tháo gia vẫn nói. Xin Chúa gìn giữ sự sâu xa và sự trưởng thành khôn ngoan của niềm vui nơi những linh mục đứng tuổi. Chúng ta hãy biết cầu nguyện như ngôn sứ Neemia: niềm vui của Chúa là sức mạnh của tôi (Xc Ne 8,10). Sau cùng, trong ngày thứ năm linh mục này, tôi xin Chúa Giêsu làm cho niềm vui của các linh mục cao niên, lành mạnh hay yếu đau, được chiếu tỏa rạng ngời. Đó là niềm vui của Thập Giá, xuất phát từ ý thức mình có một kho tàng không thể hư nát trong một bình sành dễ bị vỡ. Chúng ta hãy biết an vui trong bất kỳ nơi nào, cảm thấy niềm vui về sự vĩnh cửu trong sự mau qua của thời gian (Guardini). Họ hãy cảm thấy niềm vui vì được chuyển ngọn đuốc cho người kế tiếp, niềm vui được thấy cảc con cái của các con cái lớn lên, và cảm nghiệm những lời hứa, trong nụ cười và dịu dàng, trong đó niềm hy vọng không làm thất vọng.”            
Đức Thánh Cha Cử Hành Thánh Lễ Lá Tại Quảng Trường Thánh Phêrô   VATICAN. Sáng Chúa Nhật Lễ Lá, ngày 13.4.2014, hàng chục ngàn người đã quy tụ về quảng trường Thánh Phêrô, Vatican để tham dự thánh lễ do Đức Thánh Cha chủ sự vào lúc 9h30. Thánh lễ này cũng được cử hành với ý hướng Ngày Quốc Tế Giới Trẻ lần thứ 29 với chủ đề "Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó vì Nước Trời là của họ" (Mt 5,3). Theo truyền thống, sẽ có nghi thức trao chuyển thánh giá của ngày Quốc Tế Giới Trẻ và hình Mẹ Maria Salus Populi Romani từ các bạn trẻ Brazil đến các bạn trẻ Ba Lan, để mang tới Cracovia, nơi sẽ tổ chức Ngày Quốc Tế Giới Trẻ vào mùa hè năm 2016. Sau đó là Angelus như thường lệ. Phụng vụ bắt đầu với việc làm phép lá truyền thống. Khoảng 300 nhành lá được tết rất đẹp và kỹ thuật bởi các nghệ nhân vùng Sanremo và Bordighera theo truyền thống cổ của Phụng Vụ Tây phương. Dành cho Đức Thánh Cha là chiếc lá được làm từ ba lá cọ lớn kết lại với nhau tượng trưng cho Chúa Ba Ngôi. Các nhành Ô-liu và hoa dùng để trang hoàng Quảng Trường Phêrô do vùng Puglia cung cấp. Khu vực chung quanh bút tháp được bố trí theo cách nhằm gợi nhắc về việc Đức Giêsu được mọi người chào đón khi tiến vào Giêrusalem. Gậy mục tử mà Đức Thánh Cha sử dụng được làm từ gỗ cây Ô-liu ở nhà tù Sanremo. Lấy gợi hứng từ Bài Thương Khó theo thánh Matthêu, bài chia sẻ của Đức Thánh Cha gợi lên cho mọi người rất nhiều câu hỏi. Đức Thánh Cha đã nhắc lại toàn bộ những nhân vật xuất hiện trong Tin Mừng, từ khi Đức Giêsu bước vào thành cho đến khi Ngài được chôn cất trong mồ, với câu hỏi trọng tâm: Tôi là ai? Sau đây là toàn bộ bài chia sẻ của ngài: Tuần này bắt đầu với việc rước những nhành lá Ô-liu: tất cả mọi người chào đón Giêsu. Trẻ em, thanh thiếu niên ca hát, ngợi ca Đức Giêsu. Với tuần này, chúng ta tiến vào mầu nhiệm sự chết và phục sinh của Đức Giêsu. Chúng ta đã vừa nghe cuộc thương khó của Chúa: cuộc thương khó ấy đặt ra cho chúng ta một câu hỏi rất lý thú: tôi là ai? Tôi là ai trước Thiên Chúa của tôi? Tôi là ai, trước Giêsu Đấng tiến vào Ngày Lễ Vượt Qua ở Giêrusalem? Tôi có diễn tả niềm vui của tôi, tôi có chúc tụng Người không? Hay tôi đứng đàng xa? Tôi là ai trước Đức Giêsu đang chịu đau khổ? Chúng ta nghe thấy rất nhiều cái tên. Nhóm lãnh đạo, một số tư tế, Pharisêu, thầy thông luật đã quyết định giết Đức Giêsu. Họ chờ cơ hội để triệt hạ Người. Tôi có là một trong số họ không? Chúng ta cũng nghe một tên khác: Giuđa, 30 đồng bạc. Tôi có là Giuđa không? Chúng ta cũng nghe một số tên khác: các môn đệ chẳng hiểu gì cả, họ buồn ngủ khi Chúa đang chịu đau khổ. {youtube}Rfce8jq52gs{/youtube} Cuộc sống của tôi có buồn ngủ không? Tôi có giống các môn đệ, không hiểu điều gì là phản bội Giêsu không? Tôi có giống một số các môn đệ khác muốn giải quyết mọi chuyện với đao kiếm không? Tôi có giống Giuđa, kẻ giả vờ yêu và hôn Thầy mình để giao nộp Thầy, để phản bội Thầy không? Tôi có là kẻ phản bội không? Tôi có giống như các nhà lãnh đạo vội vàng triệu tập tòa án và tìm chứng gian không? Và giả như tôi có làm những điều này thì khi ấy tôi có tin là với những điều này tôi có thể cứu độ mọi dân không? Tôi có giống Philatô không, khi thấy tình cảnh khó khăn, thì rửa tay và chối bỏ trách nhiệm và để mặc cho người khác kết án - hay chính tôi kết ác - không? Tôi có giống đám đông, không biết gì cả nhưng lại đòi tha cho Barabba không? Với họ thì như nhau cả: nhưng hạ nhục Giêsu thì vui thú hơn. Tôi có giống những tên lính đánh Chúa, đóng đinh Chúa, treo người lên, hạ nhục Người không? Tôi có giống ông Simon thành Cyrene, đi làm về, mệt mỏi nhưng có ý tốt giúp Chúa vác cây Thập giá không? Tôi có giống những người đi ngang qua thập giá và chế nhạo Giêsu không: Nào, cố lên! Xuống khỏi thập giá đi rồi chúng tôi sẽ tini vào ông!" Họ chế nhạo Giêsu. Tôi có giống những người phụ nữ can đảm, và giống như mẹ của Giêsu, đứng ở đó, hứng chịu bao đau khổ trong thinh lặng? Tôi có giống Giuse, người môn đệ ẩn danh, đã mang xác Giêsu với trọng tình yêu và đem đi chôn cất không? Tôi có giống những nhà lãnh đạo vào ngày hôm sau đi đến chỗ Philatô và nói: ""Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: "Sau ba ngày, Ta sẽ chỗi dậy". Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắm đến lấy trộm hắn đi, rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết chỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp bợm cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước". Họ đóng cuộc sống mình lại, đóng ngôi mộ lại để bảo vệ học thuyết của mình để cuộc sống của mình không đi ra ngoài. Con tim của tôi đang ở đâu? Tôi thấy mình giống ai trong những người này? Những câu hỏi này sẽ theo chúng ta trong suốt tuần này." Trong phần Lời nguyện giáo dân, có lời nguyện bằng tiếng Pháp cầu nguyện cho "những người bị bách hại vì đức tin" để "hiến tế tình yêu" của Chúa "có thể nâng đỡ sự trung tín và sự hiền lành của các Kitô hữu" trong cuộc thử thách. Lời nguyện bằng tiếng Hoa cầu cho hòa bình giữa các dân tộc và công lý trên thế giới. Sau thánh lễ là nghi thức trao Thánh Giá và ảnh Đức Mẹ. Trước hết, Đức Thánh Cha gửi lời chào đến 250 giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân, những người đã tham gia vào Ngày Quốc Tế Giới Trẻ được Ủy Ban Giáo Hoàng về Giáo dân tổ chức. Ngày gặp gỡ thế giới lần tới được tổ chức vào tháng 7.2016 tại Cracovia với chủ đề "Phúc cho ai có lòng thương xót vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” (Mt 5,7) Đức Thánh Cha chia sẻ rằng: “Các bạn trẻ Brazil đã sớm chuyển cho các bạn trẻ Ba Lan cây Thánh Giá của ngày Giới Trẻ thế giới. Việc chuyển giao thánh giá cho giới trẻ đã được thực hiện 30 năm trước do Đức Chân Phức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thực hiện: ngài mời gọi họ hãy mang thánh giá ấy đi khắp thế giới như dấu chỉ tình yêu của Đức Kitô dành cho nhân loại. Ngày 27.4 sắp tới chúng ta vui mừng cử hành lễ phong thánh cho vị Giáo Hoàng này, cùng với Đức Gioan 23. Đức Gioan Phaolô 2, người đã khởi xướng Ngày Giới Trẻ Thế Giới, sẽ trở thành Đấng bảo trợ vĩ đại cho sự kiện này; trong sự hiệp thông với các thánh, ngài sẽ trở thành người cha và người bạn của tất cả các bạn trẻ trên khắp thế giới. Chúng ta hãy cùng cầu xin Chúa để cây Thập Giá, cùng với hình Mẹ Maria Salus Populi Romani, trở thành dấu chỉ niềm hy vọng dành cho tất cả mọi người, biểu lộ cho thế giới tình yêu chiến thắng của Đức Kitô.” Sau chia sẻ của Đức Thánh Cha, các bạn trẻ trao thánh giá cho nhau. Thánh giá được dựng đứng giữa quảng trường cùng với ảnh Đức Mẹ. Sau cùng, Đức Thánh Cha gửi lời chào đến tất cả mọi người. Ngài đặc biệt nói đến sự kiện ngài sẽ đến Hàn Quốc vào tháng 8 tới để gặp gỡ các bạn trẻ ở Châu Á. Thánh lễ và mọi nghi thức kết thức, sau khi đã thay phẩm phục, Đức Thánh Cha tiếp tục ra phía trước quảng trường để gặp gỡ, nói chuyện và chụp hình với các bạn trẻ trong tiếng hô vang và tiếng cười hạnh phúc của họ.  
Đức Hồng Y Parolin Cử Hành Cầu Nguyện Cho Các Vị Tử Đạo Mới Của Kitô Giáo   Nigeria, Pakistan, Indonesia, Iraq, Kenya, Tanzania, Cộng hòa Trung Phi… Có cả một danh sách dài các khu vực nơi đó người Kitô hữu ngày nay vẫn đang phải gánh chịu các cuộc khủng bố, phân biệt đối xử, mất tự do tôn giáo và tử đạo. Không phải là ngẫu nhiên mà trong Thánh Lễcử hành vào ngày 06-04 ở Santa Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại rằng “ngày nay, trong thế kỷ 21, Giáo hội của chúng talà một Giáo hội của các vị tử đạo”. Chính trong bối cảnh này, Cộng đoàn Thánh Egidiođã quy tụ nhau tại Vương cung thánh đường Santa Maria ở Trastevere vào dịp Tuần Thánhhằng năm, để tưởng nhớ các vị tử đạo mới của Kitô giáo. Hôm thứ Ba 15-04, Đức hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin đã chủ sự buổi cầu nguyện cho những người nam nữ sẵn sàng hy sinh mạng sống vì Phúc Âm. Hiện diện trong buổi cầu nguyện còn có đại diện các Giáo hội khác và các cộng đoànKitô hữu đã được ghi dấu máu các vị tử đạo. Giải thích đoạn Phúc Âm thánh Maccô được đọc trong phần phụng vụ Lời Chúa, Đức hồng yParolin đã nêu lên mối liên kết giữa chứng từ tình yêu của các Kitô hữu không chạy trốn sự nhạo báng và viễn cảnh của cái chết vì lòng trung thành với Thiên Chúa, với chính Chúa Kitô vì tình yêu đối với Chúa Cha đã chịu đựng sự chế nhạo của những người đi ngang qua cây Thánh giá. “Buổi cầu nguyện hôm nay cho thấy họ vẫn còn được nhớ đến, bởi vì di sản của họ vẫn sống. Di sản này khởi nguồn từ cuộc sống thường rất khiêm tốn và yếu đuối, nhưng thấm đẫm tình yêu”. Ngày nay cũng thế, “trong nhiều bối cảnh khác nhau,nhiều anh chị em của chúng tavẫn là đối tượng của sự thù hận chống Kitô giáo. Không phải họ bị báchhại vì tranh giành quyền lực thế gian, chính trị, kinh tế hay quân sự, nhưng chính bởi vì họ là những chứng nhân kiên trì của một cung cách sốngkhác, đó là cung cách khiêm hạ, phụcvụ, tự do, dựa trên đức tin. Trong sự yếu đuối của họ, họ gần gũi với chúng ta, họ chỉ cho chúng ta thấy rằng sức mạnh từ Thiên Chúa mà đến và chúng ta luôn có thể đi ra và đến với những người ở xa, ngay cả với những người xem ta như kẻ thù”. Sau đó Đức hồng y Parolin nhấn mạnh điểm này bằng cách lặp lại lời quả quyết sâu sắc của Đức giáo hoàng Phanxicô trong Tông huấn Evangelii Gaudium: “Người môn đệ sẵn sàng mạo hiểm đời mình, thậm chí chấp nhận tử đạo, để làm chứng cho Đức Giêsu, nhưng mục tiêu không phải là muốn có kẻ thù, mà là để thấy Lời của Thiên Chúa được đón nhận và sức mạnh giải thoát và đổi mới của Lời được tỏ lộ”.              (Minh Đức, WHĐ 16.04.2014/L’Osservatore Romano15-04-2014)  
  Thế Giới Nhìn Từ Vatican 28/03 – 03/04/2014 Lễ Phong Thánh cho hai vị Giáo Hoàng   1. Họp báo về lễ phong thánh cho hai vị Chân Phước Giáo Hoàng Sáng thứ Hai 31 tháng Ba, tại phòng Báo Chí Tòa Thánh, cha Federico Lombardi đã trình bày những công việc chuẩn bị liên quan đến lễ phong thánh cho Chân Phước Gioan Phaolô II và Chân Phước Gioan XXIII. Vatican đã thiết lập một trang web cung cấp những thông tin rộng rãi về hai triều đại giáo hoàng, và các thông tin liên quan đến các nghi lễ phong thánh bằng tiếng Ý, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, Pháp và Ba Lan. Một chương trình ứng dụng cho điện thoại cầm tay có tên gọi là "Santo Subito" sẽ cung cấp thông tin dành cho những người tham dự các nghi lễ, với cùng những ngôn ngữ đã đề cập ở trên. Buổi họp báo ngày 31 tháng Ba cũng liệt kê các nguồn tài nguyên trực tuyến khác nhau thông qua Facebook, Twitter, YouTube, và Google+ - cho những người tìm kiếm thêm thông tin về lễ phong thánh này. Các phóng viên cũng đã được thông báo về một dự án được gọi là # 2popesaints, trong đó sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để giúp đỡ những người trẻ tuổi làm quen với cuộc sống của hai triều đại giáo hoàng. Ngày 22 tháng Tư, các cáo thỉnh viên cho hai án phong thánh là Đức Ông Slavomir Oder (án phong thánh Chân Phước Gioan Phaolô II) và Cha Giovangiuseppe Califano (án phong thánh cho Chân Phước Gioan XXIII) - sẽ có buổi nói chuyện với các bạn trẻ tại Đền Thờ Thánh Gioan Latêranô dưới sự chủ tọa của Đức Hồng Y Agostino Vallini, giám quản Roma. Vào đêm trước lễ phong thánh, tất cả các nhà thờ trong khu trung tâm của Rome sẽ mở cư/a trong chương trình có tên "đêm thức trắng cầu nguyện," để tạo cơ hội cho các tham dự viên ngày lễ phong thánh này có thể lãnh nhận bí tích Hòa Giải bằng các ngôn ngữ khác nhau. Giáo phận Bergamo, Ý, nơi sinh của Chân Phước Gioan XXIII, sẽ tổ chức hàng loạt các cử hành của riêng mình, theo chiều hướng chăm sóc cho những người túng thiếu, và những bệnh nhân. Giáo phận đang tiến hành một dự án hỗ trợ giáo dục cho sinh viên Haiti, và gợi ý rằng các linh mục đóng góp tiền lương một tháng, và mở cuộc quyên góp đặc biệt tại các giáo xứ cho các gia đình đang lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính hiện nay. Vào ngày 12 tháng Tư, một hội nghị chuyên đề sẽ được tổ chức để thảo luận về các thông điệp mang tính bước ngoặt như Hòa Bình Tại Thế Pacem in Terris , diễn giả là ông Jacque Delors, cựu chủ tịch của Ủy ban châu Âu , với sự tham dự của đại sứ các nước nơi mà Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã từng phục vụ trong tư cách là một nhà ngoại giao của Vatican, đó là Bulgaria, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và Pháp. 2. Lịch trình chuyến thăm Thánh Địa của Đức Thánh Cha Phanxicô Sáng thứ Sáu 28 tháng Ba, phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố lịch trình chuyến thăm Thánh Địa của Đức Thánh Cha vào tháng Năm sắp tới. Thứ Bẩy 24 tháng 5 Lúc 8:15 sáng thứ Bẩy 24 tháng 5, Đức Thánh Cha sẽ khởi hành từ phi trường Fiumicino để bay đi Amman thủ đô của Jordan nơi Quốc vương Abdullah và Hoàng hậu Rania sẽ chào đón ngài tại phi trường Hoàng Hậu Alia lúc 13h. Cuộc tiếp kiến chính thức sẽ diễn ra tại cung điện Hoàng gia lúc 13:45. Một giờ sau đó, Đức Thánh Cha sẽ đọc một diễn từ trước các nhà lãnh đạo chính trị và dân sự của Jordan. Lúc 16h, ngài sẽ cử hành thánh lễ tại sân vận động quốc tế của thủ đô Amman. Lúc 19h, Đức Thánh Cha đến Bethany để viếng thăm sông Jordan nơi Chúa Giêsu đã được Thánh Gioan Tiền Hô rửa tội. Nơi đây cũng sẽ diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha với những người tị nạn và những người trẻ khuyết tật. Lúc 20h15, ngài sẽ dùng bữa tối tại Tòa Thượng Phụ Công Giáo Nghi Lễ La Tinh. Chúa Nhật 25 tháng 5 Sáng Chúa Nhật, sau nghi lễ tiễn biệt tại phi trường Hoàng Hậu Alia diễn ra lúc 8:15, Đức Thánh Cha sẽ đáp trực thăng tới Bethlehem trong phần đất của Palestine. Tại đó, sau cuộc gặp gỡ với Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas vào lúc 9:30 tại dinh Tổng Thống, Đức Thánh Cha sẽ đọc một diễn từ trước các nhà lãnh đạo chính trị và dân sự của Palestine lúc 10h và lúc 11h ngài chủ sự một thánh lễ tại Quảng trường Máng Cỏ. Lúc 13:30 ngài sẽ ăn trưa với một số gia đình người Palestine tại tu viện Casa Nova của dòng anh em hèn mọn. Sau khi ăn trưa, lúc 15h ngài sẽ đến thăm hang đá Giáng sinh, nơi Ngôi Hai xuống thế làm người và thăm các trẻ em đến từ các trại tị nạn Deheisheh, Aida và Beit Jibrin tại trung tâm sinh hoạt của trại tị nạn Deheisheh. Lúc 16:00, ngài sẽ đáp máy bay trực thăng đến phi trường quốc tế Ben Gurion của thủ đô Tel Aviv. Sau nghi thức chào đón của các nhà lãnh đạo Do Thái, lúc 17:15, Đức Thánh Cha sẽ bay ngược trở lại Jerusalem. Nửa giờ sau đó, trực thăng sẽ hạ cánh tại núi Scopus. Lúc 18:15, Đức Thánh Cha sẽ có cuộc gặp gỡ với Đức Thượng Phụ Đại Kết thành Constantinope tại dinh Sứ Thần Tòa Thánh ở Jerusalem. Nơi đây, hai vị sẽ ký kết một tuyên bố chung. Lúc 19h tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Mộ Đức Thánh Cha sẽ có cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Công Giáo và Chính Thống Giáo, nhân kỷ niệm 50 năm cuộc gặp gỡ diễn ra năm 1964 giữa Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục và Đức Thượng Phụ Athenagoras. Thứ Hai 26 tháng 5 Lúc 8:15, sáng thứ Hai, Đức Thánh Cha sẽ đến thăm vị đại giáo trưởng Hồi Giáo của Jerusalem tại đền thờ Hồi giáo Jerusalem. Sau đó, Đức Thánh Cha sẽ tới thăm Bức tường Than Khóc và viện bảo tàng Yad Vashem. Ngài cũng sẽ gặp gỡ với hai đại giáo trưởng của Israel, Tổng thống Shimon Peres và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu. Lúc 15:30, Đức Thánh Cha sẽ có cuộc gặp gỡ lần thứ hai với Đức Thượng Phụ Đại Kết thành Constantinope tại núi Cây Dầu. Lúc 16h, Đức Giáo Hoàng sẽ gặp gỡ với các linh mục, các tu sĩ nam nữ tại nhà thờ Giệtsimani ở núi Cây Dầu. Ngài sẽ chủ lễ tại nhà Tiệc Ly vào lúc 17:20. Lúc 19:30 ngài sẽ khởi hành đi Tel Aviv nơi sẽ diễn ra buổi lễ tiễn biệt của nhà nước Do Thái tại phi trường quốc tế Ben Gurion của thủ đô Tel Aviv vào lúc 20h. Sau đó, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ bay trở lại Rôma. Dự kiến máy bay sẽ hạ cánh lúc 11 giờ đêm hôm đó. 3. Đức Thánh Cha xưng tội trước khi giải tội cho những người khác Chiều thứ Sáu 28 tháng Ba, Đức Thánh Cha đã làm kinh ngạc vị trưởng ban Nghi Lễ Phủ Giáo Hoàng khi ngài tiến đến một tòa giải tội và quỳ xuống xưng tội như một hối nhân. Giáo phận Rôma đã thực hiện một thời khắc thống hối đặc biệt, gọi là ‘24 giờ dành cho Chúa’ bắt đầu bằng một cử hành phụng vụ tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô vào chiều thứ Sáu, rồi đến tối và đêm, một số nhà thờ trong trung tâm Rôma được mở cửa để các tín hữu cầu nguyện và xưng tội. Khi được cha Guido Marini hướng dẫn đến tòa giải tội dành cho ngài, thay vì ngồi vào tòa, Đức Thánh Cha đã tiến đến một tòa giải tội gần đó, quỳ xuống như một hối nhân và xưng tội. Sau khi xưng tội xong, ngài đã quay lại vị trí của mình và giải tội cho những người khác. Không nhà báo nào tại Vatican đã từng được thấy một vị Giáo Hoàng công khai xưng tội trước công chúng. 4. Làm sao để trở thành một cha giải tội tốt Sáng thứ Sáu 28 tháng Ba, Đức Thánh Cha đã gặp gỡ 600 tham dự viên khóa hội học thường niên về tòa trong của Tòa Ân Giải Tối Cao. Trong một phần tư thế kỷ qua, Tòa Ân Giải Tối Cao này đã tổ chức khóa hội học này dành cho các tân linh mục để giúp họ trở thành các vị giải tội tốt. Trong bài diễn văn, Đức Phanxicô khuyến khích các tham dự viên “trân quí kinh nghiệm nhận được bằng một tính sáng tạo khôn ngoan, hòng giúp Giáo Hội và các cha giải tội thi hành thừa tác vụ nhân từ của họ, một thừa tác vụ hết sức quan trọng”. Ngài đưa ra ba điểm quan trọng đề suy niệm về phép xưng tội. “Trước hết, tác nhân của thừa tác vụ Hòa Giải là Chúa Thánh Thần. Sự tha thứ mà Bí Tích này đem tới là sự sống mới được Chúa Phục Sinh thông ban qua Chúa Thánh Thần… Bởi thế, các con luôn có bổn phận trở thành ‘người của Chúa Thánh Thần’, chứng nhân và người công bố, hân hoan và mạnh mẽ, của Chúa Phục Sinh”. Đức Thánh Cha khuyến khích họ chào đón hối nhân “không phải với thái độ của một quan tòa, cũng chẳng phải là thái độ của một người bạn, nhưng là với tình yêu của Thiên Chúa… Trái tim một linh mục là trái tim có khả năng được đánh động, mủi lòng… Nếu truyền thống đúng khi nói tới vai trò kép làm thầy thuốc và làm quan tòa của các vị giải tội, thì ta không bao giờ được quên rằng thầy thuốc thì chữa bệnh còn quan tòa thì giải án”. Điều thứ hai được Đức Phanxicô giải thích như sau: “nếu Hòa Giải thông ban sự sống mới của Chúa Phục Sinh và đổi mới ơn phúc rửa tội, thì nhiệm vụ của các con là ban điều này một cách quảng đại cho anh chị em mình. Linh mục nào không lưu tâm tới khía cạnh này của thừa tác vụ… cũng giống như người chăn chiên không lưu tâm tới con chiên lạc của mình… Nhưng lòng xót thương ở ngay chính tâm điểm của Tin Mừng! Tin mừng là Thiên Chúa yêu thương ta, Người luôn yêu thương người tội lỗi, và với tình yêu này, Người lôi kéo con người tới Người và mời gọi họ trở lại. Chúng ta không được quên rằng người tín hữu thường khó khăn lắm mới lãnh nhận được Bí Tích này, cả vì các lý do thực tiễn lẫn nỗi khó khăn tự nhiên là phải xưng thú tội lỗi mình cho một con người khác. Do đó, điều cần là phải cố gắng nhiều về phía chúng ta, về phía nhân tính của ta, để đừng bao giờ là một trở ngại nhưng phải làm dễ phương thức xót thương và tha thứ… Xưng tội không phải là một tòa kết án, mà đúng hơn là một trải nghiệm yêu thương và nhân từ!” Cuối cùng, Đức Phanxicô nhắc đến các khó khăn thường gặp trong phép xưng tội. “Có nhiều lý do, vừa có tính lịch sử vừa có tính linh đạo. Tuy nhiên, ta biết rằng Chúa muốn hiến cho Giáo Hội ơn phúc mênh mông này, đem đến cho người đã chịu phép rửa niềm chắc chắn được ơn tha thứ của Chúa Cha. Vì lý do này, điều rất quan trọng là cần phải hết sức lưu tâm tới việc cử hành Bí Tích tha thứ và cứu rỗi này tại mọi cộng đồng giáo phận và giáo xứ. Điều chủ yếu là trong mọi giáo xứ, người tín hữu phải biết khi nào họ có thể tìm được các linh mục sẵn sàng: khi nào có tin tưởng, hoa trái sẽ tỏ tường”. 5. Buổi triều yết chung thứ Tư Mùng 2 tháng Tư Mùa xuân lại về với Rôma khiến dòng người tuôn đến quảng trường Thánh Phêrô càng đông đảo hơn. Hôm thứ Tư 2 tháng Tư, trong hơn nửa giờ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đi một vòng trên chiếc popemobile của ngài để chào thăm anh chị em giáo dân. Trong bài giáo lý sau cùng trong loạt bài về các phép bí tích, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đề cập đến hôn nhân. Ngài giải thích rằng hôn nhân rất đẹp bởi vì nó phản ánh tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại. Đức Thánh Cha nói: "Hình ảnh của Thiên Chúa là cặp vợ chồng, một người nam và một người nữ cùng với nhau. Không chỉ có nam. Không chỉ có người nữ. Nhưng, cả hai. Đó là hình ảnh của Thiên Chúa." Đức Thánh Cha Phanxicô cũng giải thích rằng các cặp vợ chồng tranh luận với nhau là điều bình thường trong cuộc sống chung, nhưng họ không nên dằn vặt mình với những nỗi buồn đè nặng trong tâm hồn. Ngài đã lặp đi lặp lại một trong những lời khuyên quý giá nhất của mình: đó là các cặp vợ chồng nên làm hòa với nhau trước khi đi ngủ. Ngài nói: "Bạn không cần phải gọi Liên Hiệp Quốc đến nhà bạn để kiến tạo hòa bình. Một cử chỉ nhỏ là đủ, một cái vuốt ve: tạm biệt , hẹn gặp lại ngày mai. Và ngày mai là một ngày mới. Đời là như thế, hãy tiến bước như vậy" Đức Giáo Hoàng cũng lặp đi lặp lại ba cụm từ then chốt phải phát triển mạnh trong các gia đình và trong hôn nhân: "xin lỗi, cảm ơn bạn, tôi rất tiếc." Ngài nói: "Với ba cụm từ này, với lời cầu nguyện cho nhau: chồng cầu nguyện cho vợ, vợ cầu nguyện cho chồng, và bằng cách làm hòa trước khi hết một ngày, cuộc hôn nhân sẽ tiến về phía trước." 6. Đức Thánh Cha tiếp kiến 25 Giám Mục nước Madagascar Sáng thứ Sáu 28 tháng Ba, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp kiến 25 Giám Mục nước Madagascar đang trong chương trình ad-limina, tức là về Roma viếng mộ hai thánh Tông Đồ và thăm Tòa Thánh. Ngài khích lệ Giáo Hội địa phương trong công tác phục vụ người nghèo và nhắn nhủ các linh mục, tu sĩ làm chứng tá Tin Mừng bằng cuộc sống. Ngỏ lời trong buổi tiếp kiến, Đức Thánh Cha ca ngợi nỗ lực của Giáo Hội địa phương trong lãnh vực bác ái, xã hội, giáo dục, vì có một mối liên hệ mật thiết giữa việc loan báo Tin Mừng và thăng tiến con người. Ngài nói: “Vì thế, tôi khuyến khích anh em kiên trì trong sự quan tâm đối với người nghèo, nâng đỡ về mặt tinh thần và vật chất tất cả những ai dấn thân trong sứ vụ này, đặc biệt là các dòng tu, mà tôi thành tâm cám ơn họ vì lòng tận tụy và chứng tá đích thực của họ về tình thương của Chúa Kitô đối với mọi người”. Đức Thánh Cha mời gọi mọi tín hữu Kitô hãy sống phù hợp với niềm tin của mình và đào sâu đức tin. Ngài nói: “Lời mời gọi này được gửi đến trước tiên cho hàng giáo sĩ và những người thánh hiến. Sứ vụ linh mục cũng như đời sống thánh hiến không phải là phương thế để tiến thân trong xã hội, nhưng là một việc phục vụ Thiên Chúa và con người. Cần phải đặc biệt quan tâm đến việc phân định ơn gọi linh mục và tu sĩ, trong các giáo phận cũng như trong các dòng tu. Anh em hãy nhắc nhở rằng cần phải hết sức quí trọng đức khiết tịnh và vâng phục; các nhân đức này phải được những người đào tạo trong các chủng viện và tập viện trình bày và sống minh bạch, không chút mơ hồ. Cũng vậy trong quan hệ với của cải vật chất và quản trị chúng một cách khôn ngoan. Thái độ phản chứng tá trong lãnh vực này thật là điều tai hại, vì gương mù gương xấu nó gây ra, đặc biệt là đối với dân chúng sống trong nghèo đói cùng cực”. 7. Đức Thánh Cha tiếp kiến Phong trào Tông đồ người mù Đức Thánh Cha Phanxicô khuyến khích các tín hữu chống lại nền văn hóa “loại trừ” và hăng say thăng tiến một nền văn hóa gặp gỡ. Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 29 tháng 3 dành cho hàng ngàn người thuộc phong trào tông đồ người mù, và “Tiểu sứ mạng phục vụ người câm điếc” (Piccola Missione per i Sordomuti). Ngỏ lời trong dịp này, Đức Thánh Cha quảng diễn đề tài “Chứng nhân Tin Mừng cho một nền văn hóa gặp gỡ”. Ngài nhắc lại sự tích Chúa Giêsu gặp gỡ người phụ nữ xứ Samaria, vốn bị người Do thái coi rẻ và loại trừ. Sau khi được gặp Chúa, được ngài soi dẫn và giải thích, bà đã trở thành chứng nhân cho những người đồng hương về Chúa. Tiếp đến là sự tích người mù thành Giêricô được Chúa chữa lành, như được kể lại trong bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ 4 Mùa Chay. Đức Thánh Cha nói: “Trong khi các thủ lãnh người biệt phái, từ trên cao trong sự tự phụ của họ, phán xét cả người mù lẫn Chúa Giêsu là những người tội lỗi, thì người mù, trong sự đơn sơ lạ thường, đã bênh vực Chúa Giêsu, và sau cùng đã tuyên xưng niềm tin nơi Ngài, chia sẻ cùng số phận của Ngài: Chúa Giêsu bị loại trừ, và cả người mù cũng vậy. Nhưng trong thực tế, người ấy được gia nhập cộng đồng mới, dựa trên niềm tin nơi Chúa Giêsu và tình yêu thương huynh đệ”. Đức Thánh Cha nói: “Đó là hai nền văn hóa đối nghịch nhau. Nền văn hóa gặp gỡ và nền văn hóa loại trừ, thành kiến. Người bệnh và khuyết tật, từ tình trạng mong manh và giới hạn của mình, họ có thể trở thành chứng nhân về cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, cởi mở đối sự sống và đức tin, và cuộc gặp gỡ với tha nhân, với cộng đoàn. Thực vậy, chỉ ai nhìn nhận sự dòn mỏng và giới hạn của mình, mới có thể xây dựng những quan hệ huynh đệ và liên đới, trong Giáo Hội và xã hội”. Sau cùng, Đức Thánh Cha khuyến khích những người thuộc Phong trào Tông đồ người mù, hãy làm cho đoàn sủng của bà sáng lập Maria Motta được phong phú, bà là một phụ nữ đầy đức tin và tinh thần tông đồ. Ngài nhắn nhủ các tín hữu thuộc Phong trào “Tiểu Sứ mạng phục vụ người câm điếc, hãy noi vết Đấng Đáng Kính Linh mục Giuseppe Gualandi vị sáng lập”. Và tất cả anh chị em hiện diện nơi đây, hãy để cho mình được gặp Chúa Giêsu: chỉ có Chúa biết rõ tâm hồn con người, chỉ có Chúa mới giải thoát con tim loài người khỏi thái độ khép kín và bi quan vô ích, mở rộng con tim đón nhận sự sống và hy vọng”. Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha được những người chuyên môn dịch ra ngôn ngữ dấu hiệu để những người điếc có thể hiểu được. Sau đó, Đức Thánh Cha đã dành nhiều thời giờ để chào thăm những người khuyết tật, người mù cũng như những người câm điếc, thân nhân và những người khuyết tật. 8. Tòa Thánh chính thức ngưng chức vị “Giám mục xa hoa” Sáng thứ Sáu 28 tháng Ba, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp Giám mục Franz-Peter Tebartz-van Elst, nhà lãnh đạo đã bị ngưng chức của Giáo phận Limburg, bên Đức, trong vòng 15 phút. Giám mục Tebartz-van Elst đã phải nộp từ chức vào tháng Mười năm ngoái theo sau những chỉ trích nặng nề về việc chi tiêu xa hoa của mình. Tòa Thánh không cho biết nội dung cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và Giám mục Tebartz-van Elst nhưng nói rằng Đức Giáo Hoàng đã chấp nhận đơn từ chức của Giám mục Tebartz-van Elst hai ngày trước đó, tức là hôm thứ Tư 26 tháng Ba, và thuyên chuyển vĩnh viễn khỏi giáo phận Limburg. Đức Cha Tebartz-van Elst đã cai quản giáo phận Limburg từ tháng Giêng 2008. Ngày 23 tháng 10 năm ngoái Tòa Thánh đình chỉ công tác của Đức Cha sau cuộc điều tra cho thấy Đức Cha đã chi tiêu đến 31 triệu Euro để trùng tu Tòa Giám Mục và một trung tâm mục vụ của giáo phận. 9. Đức Hồng Y Vela Chiriboga: chuẩn bị tốt cho hôn nhân là bí quyết cho tương lai của gia đình Đức Hồng Y Raúl Eduardo Chiriboga của Ecuador tròn 80 vào ngày 01 tháng 1 năm 2014. Vài tháng trước khi tham dự Mật Nghị Hồng Y bầu Đức Giáo Hoàng Phanxicô, là người đã cùng làm việc với ngài năm 2007, khi viết những tài liệu về Aparecida. Đức Hồng Y giải thích rằng có một vị Giáo Hoàng Mỹ Latinh sẽ giúp Mỹ Châu Latinh đón nhận một cách sống động hơn đức tin Công Giáo, hơn thế nữa, mọi người Công Giáo Mỹ Latinh sẽ cảm thấy tự tin hơn để làm chứng tá cho Tin Mừng. Đức Hồng Y Vela Chiriboga, Tổng Giám Mục Hiệu Tòa của Quito nói: "Chúng tôi không chỉ tự hào về việc có một vị Giáo Hoàng Mỹ Latinh. Chúng tôi tự hào vì chúng tôi có thể nói rằng Mỹ châu Latinh đang sống sâu sắc hơn đức tin Công Giáo." Tuy nhiên, Đức Hồng Y Vela Chiriboga nghĩ rằng Giáo Hội Công Giáo đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn, và không chỉ ở châu Mỹ Latinh. Một trong những vấn nạn chính là người dân không còn hiểu biết về đức tin của chính mình. Ngài nói: "Đức Thánh Cha Benedict XVI đã từng nói một câu đến nay vẫn làm trái tim tôi thổn thức. Năm năm trước, ngài nói rằng thách thức lớn của Giáo Hội Công Giáo ngày nay trên quy mô toàn cầu là sự ‘dốt nát tôn giáo.’ Và điều này thật đúng, không chỉ ở Ecuador hoặc Mỹ La tinh, nhưng trên toàn thế giới. " Gia đình cũng là một trong những mối quan tâm chính của Giáo Hội Công Giáo . Đức Hồng Y Vera Chiriboga đến Rome để giúp chuẩn bị Thượng Hội Đồng tiếp theo về gia đình . Ngài cho rằng sự chuẩn bị tốt cho hôn nhân là quan trọng hơn bao giờ hết. Đức Hồng Y nói: "Việc chuẩn bị cho hôn nhân không thể được xem như một phần của các thủ tục mà các cặp vợ chồng phải trải qua trước khi kết hôn. Tôi nghĩ chúng ta nên cẩn thận kiểm tra các ‘lớp dự bị hôn nhân’ để những lớp này cung cấp cho các cặp vợ chồng tương lai một sự đào tạo sâu sắc. Rút ngắn thời gian chuẩn bị này sẽ khiến cuộc sống của hai người bị đe dọa." Khi ở Rome, Đức Hồng Y Vela Chiriboga vẫn cư ngụ tại nhà nguyện Santa Marta của Vatican. Có lẽ vì ngài có thể nói tiếng Tây Ban Nha hàng ngày trong bữa ăn ... với Đức Giáo Hoàng. 10. Đức Thánh Cha tiếp kiến Tổng tu nghị dòng Don Bosco Trong buổi tiếp kiến tổng tu nghị dòng Salesien Don Bosco sáng ngày 31 tháng Ba, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi dòng đặc biệt quan tâm đến việc tuyển chọn và đào tạo ơn gọi, cũng như tình trạng nhiều người trẻ bị gạt ra ngoài lề xã hội, và tăng cường đời sống cộng đoàn huynh đệ. 250 tu sĩ Don Bosco, gồm các thành viên và cộng tác viên của Tổng tu nghị, dưới sự hướng dẫn của cha tân Bề trên Tổng quyền Angel Fernández Artime, người Tây Ban Nha, cùng với ban tổng cố vấn mới của dòng, đã hiện diện tại buổi tiếp kiến. Cha Bề trên Tổng quyền nói như sau: “Chúng con yêu mến Đức Thánh Cha. Chúng tôi đánh giá cao sự can đảm và chứng tá của Đức Thánh Cha. Chúng con quan sát với niềm vui tình yêu của Đức Thánh Cha dành cho Chúa Giêsu và Giáo Hội của Ngài, và mong muốn của Đức Thánh Cha muốn cải tổ sâu rộng cộng đồng Đức Thánh Cha đang lãnh đạo trong bác ái và phục vụ." Ngỏ lời trong dịp này, Đức Thánh Cha nhắc đến sứ mạng loan báo Tin Mừng, trong đó có việc giáo dục giới trẻ, được Chúa Thánh Linh ủy thác cho Giáo Hội. Ngài nhận xét rằng “Cần chuẩn bị người trẻ làm việc trong xã hội theo tinh thần Tin Mừng, như những người xây dựng công lý và hòa bình. Vì thế, anh em đang thực hiện những đào sâu cần thiết và cập nhật về sư phạm và văn hóa để đáp ứng nhu cầu giáo dục cấp thiết ngày nay. Ước gì kinh nghiệm của thánh Bosco và hệ thống phòng ngừa của ngài luôn nâng đỡ anh em trong sự dấn thân sống với người trẻ”. Đức Thánh Cha cũng cảnh giác chống lại quan niệm sai lầm về ơn gọi đời sống thánh hiến như một sự chọn lựa làm việc thiện nguyện. Ngài kêu gọi hãy tránh mọi quan niệm thiếu sót, để đừng khơi dậy những ơn gọi mong manh, được nâng đỡ bằng những động lực yếu ớt. Ơn gọi tông đồ thường là kết quả của một nền mục vụ tốt đẹp cho giới trẻ...” 11. Quà này không phải của giáo hoàng mà là của Jorge Mario Bergoglio Như chúng tôi đã đưa tin lúc 10 giờ 30 sáng Thứ Năm 27 tháng Ba, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp Tổng thống Barack Obama. Trong buổi tiếp kiến, ông Obama tặng Đức Phanxicô một hộp đựng hạt giống được chế tạo theo yêu cầu, trong đó đựng hạt giống quả và rau vẫn được dùng tại Nhà Trắng. Hộp này được làm bằng da Hoa Kỳ và gỗ cải tạo lấy từ Vương Cung Thánh Đường Đền Thờ Quốc Gia Kính Đức Mẹ Lên Trời tại Baltimore. Đáp lại Đức Phanxicô đã tặng ông cuốn tông huấn đầu tiên của ngài “Niềm Vui Tin Mừng”. Cuốn này, phát hành vào mùa thu qua, chỉ trích hệ thống thị trường hoàn cầu, bằng cách nói rằng hệ thống này không xem xét nhu cầu của những người nghèo nhất. Ngài viết “Chúng ta không thể tin tưởng các lực lượng không thấy và bàn tay vô hình của thị trường được nữa” (số 204). Ngài nghiêm khắc lên án “Làm sao chúng ta có thể chịu đựng nổi khi thức ăn dư thừa bị đổ đi trong khi có nhiều người bị đói? Một khối lớn dân chúng đang bị loại trừ và gạt ra ngoài lề: không có công ăn việc làm, không có triển vọng, không có có lối thoát. Người ta coi con người như những đồ tiêu thụ, nay sử dụng mai bỏ đi. Khi trao tông thư ấy, Đức Phanxicô nói với Ông Obama rằng đó là món quà của Đức Giáo Hoàng. Đức Giáo Hoàng thì hiển nhiên là tiếng nói chính thức của Giáo Hội Công Giáo. Hiểu rõ điều này, Ông Obama thưa lại: “Tôi sẽ đọc nó tại Văn Phòng Bầu Dục… Chắc chắn nó sẽ cho tôi sức mạnh và giúp tôi thanh thản”. Món quà thứ hai có tính tư riêng hơn nên chính Đức Phanxicô đã nói với Ông Obama “Món quà kia là của Đức Giáo Hoàng. Còn món quà này là của Jorge Bergolio. Khi tôi thấy nó, tôi bảo: ‘tôi sẽ tặng nó cho Ông Obama’”. Đó là tấm huy chương có khắc hàng chữ: “Một Thế Giới Của Liên Đới và Hòa Bình Xây Dựng Trên Công Lý”. 12. Radio Vatican hoàn tất việc điện toán hoá các bản ghi âm diễn văn của các vị Giáo Hoàng Đài phát thanh Vatican đã hoàn tất việc điện toán hoá kho lưu trữ các bản ghi âm của tất cả các triều đại Giáo Hoàng từ thời Đức Piô XI đến Đức Thánh Cha Phanxicô. Trong thông báo việc hoàn thành kho lưu trữ kỹ thuật số, đài phát thanh Vatican cho biết nguồn tài nguyên mới sẽ cho phép bảo quản các bản ghi âm của các Đức Giáo Hoàng, và giúp các học giả truy cập dễ dàng các tài liệu này. Đồng thời, Đài phát thanh Vatican sẽ giữ lại quyền sở hữu đối với các bản ghi âm và quyền kiểm soát việc sử dụng tiếng nói của các vị Giáo Hoàng. 13. Đức Thánh Cha tiếp tổng thống Hi Lạp Sáng thứ Sáu 28 tháng 3, tại Điện Tông Tòa của Vatican, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp Tổng thống Cộng hòa Hy Lạp, là Ông Karolos Papoulias. Cuộc thảo luận thân mật của hai vị đã xoay quanh mối quan hệ tốt đẹp hiện có giữa Tòa Thánh và Hy Lạp, và các vấn đề cùng quan tâm, chẳng hạn như tình trạng pháp lý của các cộng đồng tôn giáo, vai trò của tôn giáo trong xã hội, và sự hợp tác đại kết. Hai vị cũng bàn đến những hậu quả xã hội của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, cũng như sự đóng góp của Hy Lạp trong Liên minh châu Âu . Cuối cùng, hai vị bày tỏ mối quan tâm về tương lai của các cộng đoàn Kitô hữu tại Trung Đông, các bất ổn chính trị và các tình huống xung đột đang diễn ra ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Tổng thống Karolos Papoulias sau đó đã gặp Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, và Đức Tổng Giám Mục Dominique Mamberti, Bộ trưởng quan hệ với các nước. 14. Hai nhà thờ bị đốt trong hai ngày tại Nigeria Hôm Thứ Hai 31 tháng Ba, những người Hồi giáo quá khích tại bang Katsina, ở miền bắc Nigeria, đã đốt cháy một nhà thờ Công Giáo để phản đối một câu hỏi trong kỳ thi tú tài đã bị cáo buộc xúc xiểm tiên tri Muhammad. Đây là ngôi nhà thờ thứ hai bị đốt cháy trong vòng hai ngày. Những người Hồi Giáo quá khích cũng đã tấn công các Kitô hữu và các cửa hàng của họ một cách bừa bãi. 15. Sinh suất thấp là một thảm trạng quốc gia của Nam Hàn Đức Giám Mục Peter Kang U-il của giáo phận Cheju, là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Nam Hàn nói với thông tấn xã Công Giáo Asia-News rằng sinh suất thấp tại Nam Hàn đang là một thảm kịch quốc gia. Trung bình một người phụ nữ tại Nam Hàn chỉ có 1.25 người con. Sinh suất này đứng hàng thứ 220 trong số 231 quốc gia và lãnh thổ tự trị. Đức Cha Peter Kang nói: “Xu hướng này là kết quả sau nhiều năm của các chính sách quốc gia. Và giờ đây việc kiểm soát sinh sản nhân tạo đang dẫn đất nước đến thảm họa về dân số”. 16. Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Bolivia công kích nhà cầm quyền Trong diễn văn khai mạc phiên họp khoáng đại của Hội Đồng Giám Mục Bolivia hôm 27 tháng Ba, Đức Cha Oscar Aparicio nói rằng “Nhà nước này phải lấy làm xấu hổ vì người dân không còn chút hy vọng nào vào cái chính phủ này”. Thông tấn xã Fides của Bộ Truyền Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc đã cho biết như trên hôm 29 tháng Ba. "Trước những suy thoái xã hội và nạn tham nhũng lan rộng, xã hội , báo chí, các nhà chức trách, hệ thống tư pháp và Giáo Hội không thể giữ im lặng. Chúng ta phải làm tất cả mọi thứ trong khả năng của mình để sự thật tỏa sáng, bởi vì như Thánh Sử Gioan đã từng nói, sự thật giải thoát anh em". Hiến pháp Bolivia chỉ cho phép hai nhiệm kỳ tổng thống liên tiếp, tuy nhiên, tổng thống Evo Morales của đảng xã hội, người đã lãnh đạo Bolivia từ năm 2006 đến nay, đang cố gắng để mở rộng nhiệm kỳ thứ ba của ông cho đến năm 2020, với sự chấp thuận của Tòa án Hiến pháp. Các cuộc bầu cử được dự kiến sẽ diễn ra tại Bolivia vào ngày 05 tháng 10 tới đây. 17. Hãy cầu nguyện cho anh Sawan Masih Hôm 28 tháng Ba, một tòa án tại Lahore đã kết án treo cổ anh Sawan Masih, một Kitô hữu Pakistan, về tội xúc phạm Muhammad, người sáng lập đạo Hồi. Anh Sawan Masih mới 26 tuổi, có 3 đứa con, đã xuất hiện trước tòa trong một thân hình suy sụp sau một năm tù đầy và những phiên tòa dằng dai suốt gần một năm trong đó anh nhất mực kêu oan. Một người hàng xóm tranh chấp với anh đã cáo buộc anh đã buông ra những lời lẽ xúc phạm Muhammad. Sau vụ bắt giữ Masih của năm ngoái, một đám đông 3,000 người Hồi Giáo quá khích đã phá hủy 150 ngôi nhà và hai nhà thờ trong một cơn thịnh nộ chống Kitô giáo ở Lahore. AsiaNews cho biết các thẩm phán kết án tử hình Masih cũng đồng thời ra lệnh phóng thích cho 83 người bị buộc tội tham gia vào các cơn thịnh nộ. "Thật buồn khi thấy một bản án tử hình đối với tội danh rõ ràng là bị áp đặt sai trái, bất công và bất lương", Đức Cha Rufin Anthony Islamabad-Rawalpindi cho biết nhận xét như trên. "Tuần tới chúng tôi sẽ tổ chức một ngày cầu nguyện phản kháng." Cho đến nay, 14 người đã bị kết án tử hình và 19 người khác bị tù chung thân về tội xúc xiểm Muhammad.
Đức Thánh Cha Phanxicô Tuyên Thánh Cho Vị Thừa Sai Dòng Tên Đầu Tiên Tại Brazil Ngày 3 tháng 4 năm 2014, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ký sắc lệnh tuyên thánh cho Chân phước Giuse de Anchieta, S.J., vị thừa sai Dòng Tên đầu tiên tại Brazil và được mệnh danh là “Tông đồ nước Brazil.” Hai vị khác cùng được tuyên thánh với cha Anchieta là nữ tu Maria de I’incarnation (1599 – 1672), thọ 73 tuổi, sáng lập 1 tu viện dòng Ursulines ở Québec và Đức Cha Francois de Laval (1623 – 1708), thọ 85 tuổi, là Giám Mục tiên khởi Québec. Đây là một sắc lệnh đặc biệt, theo đó Đức Giáo Hoàng có quyền thêm tên của vị thánh mới vào trong lịch cử hành phụng vụ của Giáo Hội hoàn vũ mà không cần phải xác minh một phép lạ do vị này chuyển cầu cũng như không cần phải tổ chức lễ tuyên thánh chính thức. Tiến trình tuyên thánh này được gọi là “tuyên thánh tương đương – equivalent canonization” và chỉ được áp dụng cho những vị có tầm quan trọng đặc biệt trong Giáo Hội, những vị có danh thơm thánh thiện và được tôn kính rộng rãi qua nhiều thế kỷ. Việc thực hành này đã được thực hiện như một quy luật trong Giáo hội, dù không thường xuyên. Kể từ khi đảm nhận sứ vụ thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô đã áp dụng “tuyên thánh tương đương” đối với cha Phêrô Favre (1506-1546), bạn đường đầu tiên của thánh Inhaxiô và cũng là người đồng sáng lập Dòng Tên. Theo dự kiến, ngày 24.4, Đức Thánh Cha sẽ dâng thánh lễ tạ ơn tại nhà thờ Inhaxiô của Dòng Tên, ở Rôma cùng với các giám mục, khách hành hương từ Brazil và từ Tenerife, Tây Ban Nha, nơi thánh nhân chào đời. Thánh Giuse de Anchieta là người Tây Ban Nha, sinh năm 1534. Sau một năm theo học ở một trường Dòng Tên ở Coimbra, Bồ Đào Nha, ngài quyết định gia nhập Dòng Tên. Ngày 1 tháng 5 năm 1551, khi mới 17 tuổi, ngài được nhận vào nhà tập. Sau 2 năm nhà tập, vì sức khỏe yếu, ngài được gởi đến Brazil để hồi phục sức khỏe. Trong hơn 10 năm, ngài đã tiếp xúc và học hỏi với người dân da đỏ địa phương để chuẩn bị cho công việc tông đồ. Mặc dầu chưa được truyền chức linh mục, ngài đã nghĩ đến việc lập ấp định canh định cư để thăng tiến toàn diện đời sống dân địa phương, đã soạn thảo tập ngữ pháp tiếng Tupi, đã trở thành cố vấn thân cận của cha giám tỉnh Nobrega. Có thời gian ngài tự nguyện làm con tin trong 5 tháng tại một ấp người da đỏ, để cha giám tỉnh đi dàn xếp hòa bình giữa dân địa phương và người Bồ Đào Nha. Năm 32 tuổi, ngài được truyền chức linh mục, rồi được đặt làm trưởng của hai cộng đoàn ở Sao Vicente và Sao Paolo. Sau khi khấn lần cuối, ngài được bổ nhiệm làm giám tỉnh Brazil từ năm 1577 đến năm 1587. Trong 10 năm này, mọi người đều nhận thấy ngài là một bề trên khôn ngoan, là một nhà lãnh  đạo xuất chúng. Sau đó ngài lại được đặt làm trưởng hạt truyền giáo Espiritu Santo. Tại đây, ngài đã qua đời ngày 9.6.1597 ở làng Reritiba, mà ngày nay được gọi là Anchieta. Suốt đời ngài chỉ sống cho người da đỏ: giúp họ làm ăn, học hành, tổ chức đời sống văn hóa và tinh thần. Nguyên tắc hoạt động của ngài: “Không có gì là quá khó khăn khi nó có mục đích làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn.” Ngài đã rửa tội chừng 100 ngàn người: đó là đóng góp quan trọng để gầy dựng Giáo Hội Brazil. Ngay trong lễ an táng ngài, vị giám mục sở tại đã tặng ngài danh hiệu Tông đồ nước Brazil. Ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên  chân phước năm 1980 và được Đức Thánh Cha Phanxicô, một người anh em cùng Dòng Tên, tuyên thánh ngày 02.04.2014.          (Chỉnh Trần, S.J., dongten.net 03.04.2014)
  Hội Nghị Thế Giới Về Gia Đình Tại Philadelphia Tin Zenit ngày 25 tháng Ba cho hay Hội Nghị Thế Giới về gia đình lần thứ tám sẽ được tổ chức tại Philadelphia, Hoa Kỳ từ ngày 22 tới ngày 27 tháng Chín năm 2015. Trong cuộc họp báo cùng ngày, Đức TGM Vincenzo Paglia, chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình cho biết như vậy. Cùng họp báo với ngài có Đức TGM Charles J. Chaput, O.F.M. Cap của Philadelphia. Hội nghị có nhiệm vụ cho “thế giới thấy kế hoạch sáng lạn của Thiên Chúa dành cho các gia đình, ngõ hầu giúp các cặp vợ chồng sống thực kế hoạch này cách hân hoan, và có mặt ở đó với họ bằng một sự chăm sóc mục tử khôn ngoan, can đảm và đầy yêu thương”. Đức Giáo Hoàng Phanxicô từ trước đến nay vốn đặc biệt nhấn mạnh tới gia đình. Thượng Hội Đồng Giám Mục vào tháng Mười tới sẽ suy tư về chủ đề: “Các thách đố mục vụ của gia đình trong ngữ cảnh phúc âm hóa”. Đức TGM Paglia cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hiện diện của Đức Thánh Cha trong biến cố này, là biến cố sẽ “qui tụ các Giáo Hội của Mỹ Châu”. Ngài cho hay: “Không ai hoài nghi rằng sự hiện diện trên Ngai Tòa Phêrô của vị Giáo Hoàng đầu tiên của Châu Mỹ La Tinh càng làm cho biến cố này trở nên ý nghĩa hơn nữa. “Khởi điểm và hướng dẫn cho hành trình này đã được Đức GH Phanxicô ban cho chúng ta: vẻ đẹp của gia đình và của hôn nhân, sự cao cả của một thực tại vừa đơn giản vừa sâu sắc, một tổng hợp của hân hoan, hy vọng, gánh nặng và đau khổ, giống hệt các phần khác của cuộc đời. “Chúng ta sẽ tìm cách đào sâu sự hiểu biết của chúng ta về nền thần học gia đình cũng như chăm sóc mục vụ mà ta có nhiệm vụ thi hành trong thế giới ngày nay. Nhiệm vụ của chúng ta là cho thế giới thấy kế hoạch sáng lạn của Thiên Chúa dành cho gia đình, ngõ hầu giúp các cặp vợ chồng sống thực kế hoạch này cách hân hoan, và có mặt ở đó với họ bằng một sự chăm sóc mục tử khôn ngoan, can đảm và đầy yêu thương”. Vị chủ tịch của Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình tiếp tục cho hay: hội nghị tại Philadelphia sẽ đem tới cho Giáo Hội một sự hiện diện đối với mọi gia đình của thế giới “với một quan tâm chăm sóc của người mục tử”. Đức TGM Paglia nhấn mạnh một số thách đố và vấn đề phức tạp mà các gia đình ngày nay đang phải đối phó. Ngài nói rằng hội nghị sẽ cùng làm việc với các gia đình để đương đầu với các thách đố này một cách “khôn ngoan, can đảm và yêu thương”. Kết luận, Đức TGM Paglia bày tỏ lòng hy vọng rằng Hội Nghị Thế Giới về Gia Đình sẽ chứng kiến sự tham dự tích cực của các Giáo Hội Kitô Giáo khác, cũng như các đại diện của các tôn giáo thế giới và cả những người không có tín ngưỡng. Ngài nói: “biến cố này sẽ là cơ may đem người ta lại với nhau, những người ‘vốn cam kết mang hòa bình và thiện chí tới cho thế giới chúng ta'. “Ước mong việc chúng ta qui tụ nhau vì gia đình như thế này sẽ khuyến khích mọi người nhớ rằng chúng ta là một gia đình của nhân loại và cùng với nhau như một gia đình, chúng ta sẽ tiến bước hướng về hạnh phúc đích thực” Thời khắc của hân hoan và ơn thánh Đức TGM Chaput tỏ lòng biết ơn Đức Phanxicô đã chọn Philadelphia làm địa điểm của Hội Nghị Thế Giới về gia đình lần thứ tám. Sau đó, ngài đã trình bày kế hoạch tổ chức Hội Nghị. Ngài cho các ký giả tại Vatican hay: “chúng tôi sẽ qui tụ các chuyên viên kỳ khôi nhất mà chúng tôi có thể mời được để bàn tới các thách đố mục vụ, xã hội, kinh tế và văn hóa mà các gia đình hiện đang gặp phải. Xét cho cùng, mục tiêu của chúng tôi khá đơn giản. Chúng tôi muốn giúp các gia đình củng cố cuộc sống gia đình của họ theo phương cách hết sức mục vụ”. Nhân dịp này, Đức TGM Chaput ca ngợi Đức Phanxicô là người “đã nhập thân sứ điệp sót thương và vui tươi vốn nằm ở tâm điểm Tin Mừng. Sự hứng khởi của ngài đối với sự sống và lòng cảm thương của ngài đối với các nhu cầu chân thực của người ta đã gây hứng để chúng ta chú tâm vào sứ mệnh yêu thương chung của chúng ta và làm thế nào để tình yêu này lên men cho mọi gia đình và các thành viên của chúng”. Đức TGM “thành thực cầu xin để Đức Thánh Cha có thể tham gia với chúng ta trong buổi cử hành vào năm tới”. Để hỗ trợ cho lời “cầu xin” trên, Đức TGM Chaput nhấn mạnh tới tầm ý nghĩa của Hội Nghị “không riêng cho tín hữu Công Giáo, mà còn cho mọi người có thiện chí, khi chúng ta làm nổi bật vẻ đẹp và sự thật của đời sống gia đình, một thực tại, vì là nơi ưu tuyển nhất của yêu thương, nên đang cung cấp cho ta năng động tính của tình âu yếm nhân bản hỗ tương, một tình âu yếm đang đổ đầy mọi mái ấm và mọi thành viên gia đình một thứ ánh sáng và hơi ấm độc đáo và dồi dào sinh lực”. Ngài cũng cho hay: “những cuộc tụ tập như thế này là một nguồn vui lớn lao… và cũng trở thành những thời khắc ơn thánh. Chúng có sức mạnh biến cải, một cách hết sức tích cực, toàn bộ cộng đồng công cộng”. Đức TGM không quên “quảng cáo” cho Philadselphia: “Philadelphia là một trong các thành phố vĩ đại nhất của quê hương tôi và phong phú đặc biệt trong lịch sử Hoa Kỳ. Nó là nơi Hiệp Chúng Quốc khởi sự như một quốc gia. Các lý tưởng chính trị được thai nghén tại Phialadelphia vốn phục vụ các nhân quyền và tự do nhân bản hơn hai thế kỷ qua, không phải chỉ ở Hiệp Chúng Quốc mà ở khắp mọi nơi. Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng nhấn mạnh tầm quan trọng của nhân phẩm trong Niềm Vui Tin Mừng và ở những chỗ khác. Và ngài vốn nhấn mạnh đặc biệt tới sức mạnh của gia đình như là người bảo đảm sự triển nở nhân bản. Ta càng khuyến khích và hỗ trợ sự lành mạnh của các gia đình, xã hội càng trở nên 'sống động' hơn”. Chưa hết, theo Đức TGM, “Philadelphia còn là hình tượng của Công Giáo Hoa Kỳ, với hai vị thánh Hoa Kỳ vĩ đại. Mẹ Katharine Drexel dành cuộc đời phục vụ người Hoa Kỳ gốc Phi Châu và Người Thổ Dân Bắc Mỹ. Và Đức Giám Mục John Neumann từng tạo lập các trường nhà xứ, nay trở thành kiểu mẫu quốc gia và giúp các gia đình di dân nghèo giáo dục con cái họ. Thành thử, Philadelphia có một di sản lớn về nền giáo dục Công Giáo, cũng như nhiều thập niên phục vụ người di dân, các nhóm thiểu số, những người khuyết tật, người cao niên, người đói và người nghèo. Ngày nay, việc phục vụ này vẫn đang được tiếp diễn trong mọi thừa tác vụ xã hội Công Giáo của chúng tôi”. Ấy thế nhưng Đức TGM Chaput không dấu diếm rằng “Giáo Hội tại Philadelphia cũng là một cộng đồng rất cần được canh tân tiếp theo cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục trong thập niên qua. Theo nghĩa ấy, Philadelphia là hình ảnh ghi vội của Giáo Hội hoàn cầu. Chúng ta có bổn phận giúp các nạn nhân của lạm dụng và gia đình họ hàn gắn, và bảo vệ các trẻ em và thiếu niên khỏi bị hại trong các năm trước mặt”. Ngài nhấn mạnh nhiệm vụ của Giáo Hội trong việc “giúp người ta tìm gặp Thiên Chúa và sống đức tin của họ một cách hân hoan và xác tín. Câu truyện thống hối và (có) đời sống mới là câu truyện của Israel xưa và đó cũng là câu truyện của Giáo Hội ngay lúc thịnh đạt nhất trong suốt lịch sử của mình”. Cũng nên biết, trong cuộc họp báo còn có sự hiện diện của Thống Đốc Pennsylvania Tom Corbett và phu nhân Susan, Thị Trưởng Philadelphia Michael Nutter và Phó Thị Trưởng Everett Gillison. Thống Đốc và Thị Trưởng đã nhận làm đồng chủ tịch danh dự của Hội Nghị. Đức TGM Chaput cho biết: nhiều nhà lãnh đạo liên tôn và đại kết trong cộng đồng kinh doanh của Philadelphia cũng đã chấp thuận lời mời tham gia làm đồng chủ tọa trong Ban Lãnh Đạo Tổ Chức (Executive Leadership Cabinet).                Vũ Văn An
  Đức Thánh Cha Chủ Sự Nghi Thức Thống Hối và Giải Tội VATICAN. Lúc 5 giờ 10 chiều 28-3-2014, ĐTC đã chủ sự nghi thức thống hối tại Đền thờ Thánh Phêrô, với phần xưng thú và giải tội cá nhân sau đó. Sau lời chào phụng vụ của ĐTC, 8 ngàn người đã nghe đoạn thư thánh Phaolô gửi tín hữu thành Ephêsô (4,23-32) trong đó thánh nhân mời gọi các tín hữu hãy canh tân tâm trí và từ bỏ mọi hành vi xấu xa; tiếp đến là bài Tin Mừng theo thánh Gioan (13, 34-35; 15,10-13) qua đó Chúa Giêsu ban giới răn mới cho các môn đệ: hãy thương yêu nhau và tuân giữ các giới răn của Ngài. Trong bài giảng, dựa vào các bài đọc, ĐTC quảng diễn hai yếu tố: 1. Thứ nhất là 'Hãy mặc lấy con người mới'. Con người mới, ”được tạo dựng theo Thiên Chúa” (Ep 4,24), sinh trong bí tích rửa tội, nơi họ nhận chính sự sống của Thiên Chúa, làm cho chúng ta trở thành con cái Chúa và tháp nhập chúng ta vào Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài. ĐTC phân biệt đời sống bị tội lỗi làm biến dạng và đời sống được ân thánh soi sáng. ”Từ tâm hồn con người được đổi mới theo Thiên Chúa, nảy sinh những thái độ tốt lành: luôn nói sự thật và tránh gian dối; không trộm cắp, nhưng chia sẻ điều mình có với tha nhân, nhất là những người túng thiếu; không chiều theo cơn giận, oán hờn, và báo thù, nhưng hiền lành, đại đảm và sẵn sàng tha thứ, không nói hành nói xấu làm mất thanh danh người khác, nhưng cố gắng nhìn những khía cạnh tích cực của mỗi người.” 2. Yếu tố thứ hai là ở lại trong tình yêu. Tình yêu của Chúa Giêsu tồn tại mãi mãi, không bao giờ tận, vì là chính sự sống của Thiên Chúa. Tình yêu này chiến thắng tội lỗi và ban sức mạnh để trỗi dậy và trở nên trẻ trung. Thiên Chúa là Cha chúng ta không bao giờ mệt mỏi vì yêu thương, va mắt Ngài không nặng chĩu khi nhìn con đường trước nhà để xem người con đã ra đi và đã hư mất, nay trở về... Thiên Chúa không những là nguồn mạch tình yêu, nhưng trong Chúa Giêsu Kitô, Ngài còn kêu gọi chúng ta nói theo chính cách thức yêu thương của Ngài: ”Như Thầy đã yêu thương các con, các con hãy yêu thương nhau” (Ga 13,34). Tùy theo mức độ Kitô hữu sống tình yêu này, mà họ trở thành môn đệ đáng tin cậy của Chúa Kitô trong thế giới. Tình yêu không chấp nhận khép kín nơi mình. Do bản chất, tình yêu là cởi mở, lan tỏa ra và phong phú, luôn sinh ra tình yêu mới”. Sau bài giảng của ĐTC, mọi người đã xét mình trong thinh lặng, rồi xưng tội riêng và lãnh nhận bí tích xá giải do 61 linh mục và một số GM ban. Cả ĐTC cũng quì gối xưng tội với một cha giải tội trong một tòa giải tội ở gần cuối nhà thờ. Rồi ngài cũng giải tội cho một số hối nhân. Các cha giải tội hầu hết là các cha dòng thuộc đoàn giải tội ở 4 đại vương cung thánh đường Roma. Buổi cử hành nghi thức thống hối kết thúc với phần tạ ơn và phép lành của ĐTC. Đức TGM Rino Salvatore, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái Truyền Giảng Tin Mừng, là cơ quan đã đề xướng việc tổ chức nghi thức thống hối trong khuôn khổ đại lễ tha thứ ”24 giờ cho Chúa” được cử hành ở nhiều giáo phận trên thế giới, nói rằng: ”Sáng kiến này muốn thực sự là một đại lễ trong đó chúng ta được mời gọi suy tư về chính mình, tìm lại sự thật về đời sống chúng ta, và không quá tìm những lý lẽ biện minh cho những gì không tốt xảy ra, trái lại chân thành đặt mình trước Thiên Chúa, và trong kinh nghiệm ấy, sống kinh nghiệm được tha thứ, và được yêu mến mặc dù chúng ta là người tội lỗi”. Sau nghi thức thống hối và hòa giải ở Đền thờ Thánh Phêrô, 3 thánh đường ở Roma là Nhà thờ Thánh nữ Agnès ở quảng trường Navova, nhà thờ Các Dấu Tích của Chúa ở quảng trường Argentina, va Vương cung thánh đường Đức Mẹ Maria ở khu Trastevere được mở cửa tới nửa đêm để các tín hữu xưng tội và chầu Mình Thánh Chúa. Nhiều bạn trẻ trải qua kinh nghiệm này với những người đồng lứa tuổi về việc tái truyền giảng Tin Mừng”. Sáng kiến ”24 giờ cho Chúa” kết thúc với Kinh chiều I vào chiều thứ bẩy hôm nay, 29-3.           (G. Trần Đức Anh OP, RadioVaticana 28.03.2014)    
  Đức Thánh Cha Tiếp Kiến Tổng Thống Barak Obama   VATICAN. Sáng ngày 27-3-2014, ĐTC Phanxicô đã tiếp kiến Tổng thống Hoa Kỳ, Barak H. Obama và đã hội kiến với ông trong gần 50 phút. Tổng thống Obama đã đến Vatican lần đầu tiên vào tháng 7 năm 2009 và được ĐGH Biển Đức 16 tiếp kiến, và nay là lần đầu tiên ông gặp ĐGH Phanxicô. ĐTC đã hội kiến riêng với tổng thống từ lúc 10 giờ rưỡi. Ngài dùng tiếng Tây Ban Nha, và cả hai vị đều có thông ngôn riêng. Sau đó đoàn tùy tùng của Tổng thống gồm 12 người, trong đó có ngoại trưởng John Kelly, đã vào chào ĐTC, chụp hình lưu niệm và trao đổi tặng vật. Tiếp đến, Tổng thống và đoàn tùy tùng đã gặp ĐHY Quốc vụ khanh Tòa Thánh Pietro Parolin, cùng với Đức TGM ngoại trưởng Dominique Mamberti. Thông cáo chính thức của Tòa Thánh cho biết ”các cuộc hội kiến thân mật đã giúp trao đổi quan điểm về một số đề tài thời sự quốc tế, cầu mong cho những vùng xung đột có sự tôn trọng công pháp về nhân đạo và công pháp quốc tế, cũng như một giải pháp bằng đường lối thương thuyết giữa các phe liên hệ”. ”Trong bối cảnh quan hệ song phương và sự cộng tác giữa Giáo Hội và Nhà Nước, Tòa Thánh đã đề cập đến những vấn đề đặc biệt quan trọng đối với Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ. như việc thực thi các quyền tự do tôn giáo, quyền sống và quyền phản kháng lương tâm cũng như việc cải tổ di trú. Sau cùng có bày tỏ sự dấn thân chung trong việc loại trừ nạn buôn người trên thế giới”. Tổng thống Obama và đoàn tùy tùng đã giã từ Vatican lúc gần 12 giờ rưỡi trưa để đến viếng thăm Tổng thống Italia, Ông Giorgio Napolitano.              (G. Trần Đức Anh OP, RadioVaticana 27.03.2014)    
  Đức Thánh Cha Cử Hành Thánh Lễ Cho Gần 500 Đại Biểu Quốc Hội Italia    VATICAN. Lúc 7 giờ sáng 27-3-2014, ĐTC Phanxicô đã cử hành thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô với sự tham dự của gần 500 thượng và hạ nghị sĩ Italia. Ngài mời gọi các vị đặc biệt quan tâm đến thiện ích của dân chúng. Trong bài giảng, ĐTC đã quảng diễn các bài đọc của ngày lễ, đặc biệt là đoạn Phúc Âm kể lại việc Chúa Giêsu trừ quỉ nhưng giới biệt phái và luật sĩ cho rằng ngài nhân danh tướng quỉ Beelzebul mà trừ quỉ. ĐTC phê bình thái độ của giới lãnh đạo dân Do thái hồi đó, các nhà thông luật, biệt phái và sađuxê, khép kín trong các ý tưởng, việc mục vụ và ý thức hệ của họ. Giới lãnh đạo ấy không lắng nghe Lời Chúa, và để biện minh cho thái độ ấy, họ cho rằng Chúa Giêsu nhờ Satan mà trừ quỉ. Trái lại, Chúa Giêsu nhìn dân, cảm động vì họ như đoàn chiên không có người chăn dắt. Ngài đến cùng người nghèo, người bệnh, với mọi người, các goá phụ, người phong cùi, để chữa lành họ. Trong khi đó giới lãnh đạo dân chỉ quan tâm đến quyền lợi, phe nhóm đảng phái của họ, đấu tranh nội bộ với nhau... Họ là những người tham nhũng, bị hư hỏng, yên trí trong những sự việc của họ, và thật khó trở lui. Trong phần kết luận, ĐTC mời gọi mọi người trong mùa chay, hãy lắng nghe tiếng Chúa, và thành tâm trở về cùng Người. Ngài nói: ”Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta ơn luôn luôn tiến bước trên con đường cứu độ, cởi mở đối với ơn cứu độ chỉ đến từ Thiên Chúa, từ niềm tin, chứ không từ những điều mà ”những tiến sĩ về các điều bó buộc” đề nghị, họ đã mất đức tin, cai quản dân bằng thứ thần học mục vụ về những điều phải làm.”           (G. Trần Đức Anh OP, RadioVaticana 27.03.2014)
    Công Bố chương Trình Viếng Thăm Của Đức Thánh Cha Tại Thánh Địa   VATICAN. Hôm 27-3-2014, Phòng báo chí Tòa Thánh đã công bố chương trình viếng thăm tại Thánh Địa từ ngày 24 đến 26-5 tới đây nhân dịp kỷ niệm 50 năm cuộc gặp gỡ tại Jerusalem giữa ĐGH Phaolô 6 và Đức Thượng Phụ Chính Thống Athenagoras. - ĐTC sẽ rời Roma lúc 8 giờ 15 phút sáng thứ bẩy, 24-5-2013 và đến Phi trường Amman, thủ đô Giordani lúc 1 giờ trưa. Sau nghi thức tiếp đón và viếng thăm Quốc vương và Hoàng hậu Giordani, ĐTC sẽ gặp chính quyền nước này vào lúc gần 2 giờ rưỡi chiều. Tiếp đến vào lúc 4 giờ chiều ngài sẽ cử hành thánh lễ cho các tín hữu tại Sân vận động quốc tế ở thủ đô Amman rồi viếng thăm nơi Chúa Giêsu chịu phép rửa bên bờ sông Giordan. Sau cùng ĐTC sẽ gặp người tị nạn và các bạn trẻ khuyết tật lúc 7 giờ 15 tại nhà thờ gần đó. - Sáng chúa nhật 25-5-2014, ĐTC sẽ giã từ Giordani đáp trực thăng đến thành Bethlehem lúc gần 9 giờ rưỡi. Ngài sẽ được tổng thống Palestine tiếp đón, hội kiến, và gặp gỡ chính quyền Palestine vào lúc 10 giờ, trước cử hành thánh lễ lúc 11 giờ tại Quảng trường Máng Cỏ. Sau thánh lễ lúc 1 giờ rưỡi trưa, ngài sẽ dùng bữa với các gia đình tại tu viện dòng Phanxicô ”Casa Nova” tại Jerusalem. Ban chiều lúc 3 giờ, ĐTC sẽ viếng Hang Đá nơi Chúa Giêsu sinh ra, rồi chào thăm các trẻ em thuộc các trại tị nạn Dheisheh, Aida và Beit Jibrin tại Trung Tâm ”Phượng Hoàng” trong trại Dheisheh. Lúc 3 giờ 45 chiều cùng ngày, ĐTC giã từ Palestine để đáp trực thăng tới phi trường quốc tế Tel Aviv của Israel. Sau nghi thức tiếp đón, ngài dùng trực thăng để tới Jerusalem. Lúc 6 giờ 15 chiều, ngài gặp Đức Thượng Phụ Bartolomaios I Giáo Chủ Chính Thống Constantinople ở tòa Khâm Sứ Tòa Thánh ở Jerusalem và hai vị ký vào một tuyên ngôn chung. Tiếp đến vào lúc 7 giờ, tại Đền Thờ Mộ Thánh, có cuộc gặp gỡ đại kết nhân dịp kỷ niệm 50 năm cuộc gặp gỡ giữa Đức Phaolô 6 và Đức Thượng Phụ Athenagoras. Ban tối ĐTC dùng bữa với các vị Thượng Phụ và GM cùng đoàn tùy tùng tại Tòa Thượng Phụ Công Giáo la tinh ở Jerusalem. - Sáng thứ hai, 26-5, ĐTC sẽ gặp vị Đại Mufti Hồi giáo tại trụ sở Đại hội đồng Đền thờ Hồi giáo Jerusalem. Rồi ngài viếng Bức tường Phía tây của thành Jerusalem quen gọi là Bức tường than khóc, trước khi đặt vòng hoa trên núi Herzl cũng ở Jerusalem. Sau đó lúc 10 giờ ĐTC viếng Bảo tàng viện Yad Vashem tưởng niệm cuộc diệt chủng Do thái. Trong các sinh hoạt kế tiếp, ĐTC viếng thăm hai vị Đại Rabbi của Israel, rồi hội kiến riêng với thủ tướng nước này tại Trung tâm Đức Bà ở Jerusalem. Ban chiều cùng ngày lúc 3 giờ rưỡi, ngài đến thăm Đức Thượng Phụ Bartolomaios tại tòa nhà trước thánh đường Chính Thống Viri Galileai trên núi Cây Dầu. Lúc 4 giờ chiều, ĐTC gặp các LM, tu sĩ nam nữ và chủng sinh tại Nhà Thờ Giệtsimani cạnh vườn Cây Dầu, trước khi cử hành thánh lễ với các vị Bản quyền Công Giáo tại Thánh Địa tại Nhà Tiệc Ly ở Jerusalem, rồi ra phi trường đáp máy bay lúc 8 giờ 15 phút tối để trở về Roma, dự kiến vào lúc 11 giờ đêm cùng ngày. Cha Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh nói rằng chương trình trên đây cho thấy việc chuẩn bị chuyến viếng thăm của ĐTC tại Thánh Địa đang tiến hành như dự định. Tòa Thánh biết rằng tại Israel đang có tình hình căng thẳng vì cuộc đình công của công đoàn ngoại giao, nhưng Tòa Thánh hy vọng các tiếp xúc chính thức sẽ sớm được mở lại với nhà chức trách có thẩm quyền để chuẩn bị thích đáng cho cuộc viếng thăm của ĐTC.        (G. Trần Đức Anh OP, RadioVaticana 27.03.2014/ SD 27-3-2014)
  Mỗi một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu biến đổi cuộc sống và ban cho chúng ta niềm vui Mùa Chay là thời gian thuận tiện giúp chúng ta nhìn vào bên trong chính mình để làm nổi lên các nhu cầu tinh thần đích thật nhất, và xin sự trợ giúp của Chúa trong lời cầu nguyện. Giống như trường hợp của người đàn bà xứ Samaria, gặp gỡ Chúa Giêsu thay đổi cuộc sống chúng ta và ban cho chúng ta niềm vui. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với 70.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi đọc Kinh Truyền Tin tại quảng trường thánh Phêrô trưa Chúa Nhật 23-3-2014. Mở đầu bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: Anh chị em thân mến, hôm nay Phúc Âm trình bầy với chúng ta cuộc găp gỡ của Chúa Giêsu với người đàn bà xứ Samaria, tại Sicar, gần một cái giếng cổ, nơi bà tới kín nước mỗi ngày. Hôm ấy bà tìm thấy Chúa ngồi đó ”mệt mỏi vì đường xa” (Ga 4,6). Người nói ngay với bà: ”Xin cho tôi nước uống” (c. 7). Đức Thánh Cha giải thích ý nghĩa cử chỉ này của Chúa Giêsu như sau: Trong cách thức này Người thắng vượt các hàng rào thù nghịch đã có giữa người Do thái và người Samaria, và bẻ gẫy các lược đồ thành kiến đối với các phụ nữ. Lời xin đơn sơ của Chúa Giêsu là khởi đầu của một cuộc đối thoại thắng thắn, qua đó với sự tế nhị rất lớn, Chúa Giêsu bước vào trong thế giới nội tâm của một người, mà theo các lược đồ xã hội đáng lý ra Ngài cũng không nên bắt chuyện. Nhưng Chúa Giêsu làm điều đó! Ngài không sợ hãi. Khi trông thấy một người, Chúa Giêsu tiến tới, vì Ngài yêu thương. Ngài yêu thương tất cả chúng ta. Ngài không bao giờ dừng lại trước một người vì các thành kiến. Chúa Giêsu đặt để bà trước tình trạng của bà, bằng cách không phán xử bà, nhưng làm cho bà cảm thấy được trân trọng, thừa nhận, và như thế gợi lên nơi bà ước muốn đi xa hơn cuộc sống nhàm chán thường ngày. Cái khát của Chúa Giêsu không phải là khát nước, nhưng là khát gặp gỡ một linh hồn đã khô héo. Chúa Giêsu cần gặp người đàm bà xứ Samaria để mở con tim bà ra: Ngài xin bà cho nước uống để minh nhiên cái khát bà có trong chính bà. Người đàn bà bị đánh động bởi cuộc gặp gỡ ấy: bà hỏi Chúa những cầu hỏi sâu xa, mà chúng ta tất cả đều có ở trong lòng, mà thường chúng ta không biết. Cả chúng ta nữa cũng có biết bao nhiêu câu hỏi, nhưng không tìm ra can đảm để hỏi Chúa Giêsu! Lồng khung sứ điệp cuộc găp gỡ này vào Mùa Chay Đức Thánh Cha nói: Mùa Chay là thời gian thuận tiện giúp chúng ta nhìn vào bên trong chính mình để làm nổi lên các nhu cầu tinh thần đích thật nhất, và xin sự trợ giúp của Chúa trong lời cầu nguyện. Gương của người đàn bà xứ Samaria mời gọi chúng ta bầy tỏ mình như vầy: ”Xin cho con nước sẽ làm cho con đã khát đời đời.” Phúc Âm nói rằng các môn đệ ngạc nhiên thầy Thầy mình nói chuyện với người phụ nữ đó. Nhưng Chúa vĩ đại hơn các thành kiến, vì thế Người không sợ hãi dừng lại với người đàn bà xứ Samaria: lòng thương xót lớn hơn thành kiến. Đây là điều chúng ta phải học: lòng thương xót lớn hơn thành kiến. Và Chúa Giêsu thì vô cùng thương xót, vô cùng! Kết qủa cuộc gặp gỡ bên bờ giếng là người đàn bà được biến đổi: bà ”bỏ cái vò bà mang tới kín nước lại đó” (c. 28) và chạy vào thành phố kể lại kinh nghiệm ngoại thường của bà. Bà đi kín nước giếng và đã tìm thấy một thứ nước khác, nước hằng sống của lòng thương xót vọt lên từ cuộc sống vĩnh cửu. Bà đã tìm thấy nước, mà bà đã luôn luôn kiếm tìm! Bà chạy vào làng, ngôi làng đã phán xử bà và khước từ bà, và loan báo rằng bà đã gặp Đấng Messia, Đấng Cứu Thế: một người đã thay đội cuộc sống của bà. Bởi vì mỗi một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu luôn luôn thay đổi cuộc sống chúng ta. Đó là một bước tiến tới, một bước gần Thiên Chúa hơn. Và như thế mỗi một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu thay đổi cuộc sống chúng ta. Luôn luôn, luôn luôn là như vậy. Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: Trong Phúc Âm này chúng ta cũng tìm thấy sự khích lệ ”để vò nước của chúng ta lại đó”, nó biểu tượng cho tất cả những gì xem ra quan trọng, nhưng mất giá trị trước tình yêu của Thiên Chúa, đã ”được đổ tràn đầy con tim của chúng ta qua Chúa Thánh Thần” (Rm 5,5). Chúng ta được mời gọi tái khám phá ra tầm quan trọng và ý nghĩa của cuộc sống kitô, đã bắt đầu với Bí tích Rửa Tội và như người đàn bà xứ Samaria, chúng ta được mời gọi làm chứng cho các anh chị em khác. Làm chứng cho cái gì? Niềm vui! Làm chứng cho niềm vui của cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, bởi vì tôi đã nói rằng mỗi một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu thay đổi cuộc sống chúng ta, và mỗi một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu trao ban cho chúng ta niềm vui, niềm vui đến từ bên trong. Và Chúa là như thế. Và kể lại biết bao điều kỳ diệu mà tình yêu của Người biết làm trong con tim chúng ta, khi chúng ta có can đảm để cái vò của mình ra một bên, và các điều kỳ diệu mà tình yêu của Chúa hoàn thành trong cuộc sống chúng ta. Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc Kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người. Sau Kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha còn dặn mọi người đừng quên tư tưởng này ”Mỗi một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu thay đổi cuộc sống chúng ta. Mỗi một cuộc gặp gở với Chúa Giêsu ban cho chúng ta niềm vui.” Và ngài xin mọi người cùng lập lại với ngài câu đó. Đức Thánh Cha cũng nhắc cho mọi người biết Thứ hai hôm nay là Ngày Quốc Tế Bệnh Lao Phổi và nói: chúng ta hãy cầu nguyện cho tất cả những người bị bệnh lao và cho những ai trợ giúp họ bằng nhiều cách khác nhau. Thứ sáu và thứ bẩy tới chúng ta sẽ sống một thời điểm sám hối đặc biệt gọi là ”24 giờ cho Chúa”. Nó sẽ bắt đầu với việc cử hành tại đền thờ Thánh Phêrô chiều thứ sáu, rồi sau đó ban đêm vài nhà thờ ở trung tâm thành phố Roma sẽ mở cửa cho việc cầu nguyện và xưng tội. Đó sẽ là một lễ, chúng ta có thể gọi là một lễ của ơn tha thứ. Nó cũng sẽ được cử hành trong nhiều giáo phận và giáo xứ trên thế giới. Đức Thánh Cha đã chào nhiều nhóm tín hữu hiện diện tại quảng trường. Ngài cũng chào đặc biệt 18.000 tham dự viện cuộc chạy đua Marathon mùa xuân tại Roma và chúc mọi người một ngày Chúa Nhật tươi vui an lành.           (Linh Tiến Khải, RadioVaticana 24.03.2014)
Giáo Hội và thế giới rất cần sự hiện diện của những người sống đời thánh hiến. Các người thánh hiến là dấu chỉ của Thiên Chúa trong các môi trường cuộc sống khác nhau, họ là men giúp một xã hội lớn lên công bằng và huynh đệ hơn. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên trong buổi đọc Kinh Truyền Tin chung tới tín hữu và du khách hành hương trưa Chúa Nhật 2-2-2014, lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ và cũng là Ngàu Quốc Tế Đời Thánh Hiến. Trước đó lúc 10 giờ sáng ngài đã chủ sự thánh lễ trong Đền Thờ Thánh Phêrô. Ngày Quốc Tế Đời Thánh Hiến đã do Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thành lập và cử hành lần đầu tiên năm 1997 nhằm mục dích cảm tạ Chúa vì ơn gọi đời thánh hiến, đánh giá ngày càng cao hơn chứng tá của các tu sĩ nam nữ chọn sống ba lời khấn phúc âm, và là dịp để mọi người sống đời thánh hiến canh tân quyết tâm dâng mình cho Chúa. Cùng đồng tế với Đức Thánh Cha có Đức Hồng Y João Bras de Aviz, Tổng trưởng bộ các dòng tu và hiệp hội tông đồ, Đức Tổng Giám Mục José Rodriguez Carballo Tổng thư ký, vài nhân viên của Bộ, cha Nicholas Pachón, Chủ tịch Hiệp hội các Bề trên tổng quyền, cha Luigi Gaetano Chủ tịch hiệp hội các Bề trên cả Italia. Thánh lễ mở đầu với cuộc rước với sự tham dự của 25 nam tu sĩ và 25 nữ tu, đại diện cho mọi lứa tuổi của đời thánh hiến, cũng như các tu sĩ và bề trên đại diện cho mọi chức vụ của dòng tu và tu hội. Mỗi người trên tay cầm một cây nến biểu tượng cho Chúa Kitô là ánh sáng thế gian và cho ơn gọi của đời thánh hiến là ánh sáng chiếu soi trần gian. Giảng trong thánh lễ Đức Thánh Cha nói: Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ cũng được gọi là lễ của sự gặp gỡ: gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và dân Người. Khi Đức Maria và thánh Giuse đem con vào Đền Thờ Giêrusalem, thì xảy ra cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và dân người được đại diện bởi hai cụ già Simeong và Anna. Đây cũng là cuộc gặp gỡ bên trong lịch sử của dân Chúa, một cuộc gặp gỡ giữa các người trẻ là Đức Marria và ông Giuse và các người già là ông Simeong và ban Anna. Trình thuật Phúc âm cho thấy cha mẹ Chúa Giêsu tươi vui tuân giữ và đi theo các luật lệ của Thiên Chúa. Thánh sử Luca nhấn mạnh sự kiện hai người già được Thánh Thần Chúa hướng dẫn. Và Thánh Gia gặp gỡ hai người dại diện này của dân thánh Chúa trong Đền Thờ. Chúa Giêsu ở trung tâm. Chính Người chuyển động tật cả, lôi kéo các người này và người kia đến Đền Thờ, là nhà của Cha Người. Đó là cuộc gặp gỡ giữa sự vâng phục của người trẻ và lời tiên tri của người già. Việc tuân giữ luật lệ được chính Thần Khí linh hoạt, và lời tiên tri di chuyển trên con đường do Luật Lệ vạch ra. Ai tràn đầy Thần Khí bằng Mẹ Maria? Ai ngoan ngoãn với hoạt động của Thần Khí bằng Mẹ? Đời thánh hiến cũng là một cuộc găp gỡ với Chúa Giêsu: chính Người được Mẹ Maria và thánh Giuse đem đến cho chúng ta, và chúng ta được Thánh Thần hướng dẫn bước tới với Người. Người ở trung tâm và di chuyển tất cả, Người lôi kéo chúng ta đến Đền Thánh, nơi chúng ta có thể gặp gỡ, nhận biết, tiếp đón và ôm lấy Người. Chúa Giêsu đến gặp chúng ta trong Giáo Hội, qua đặc sủng xây nền của một dòng tu. Cuộc gặp gỡ của chúng ta với Chúa Kitô đã thành hình trong Giáo Hội qua đặc đủng của một chứng nhân nam nữ của Người. Sự kiện này khiến cho chúng ta kinh ngạc và làm cho chúng ta tạ ơn Chúa. Cả trong đời thánh hiến người ta cũng sống cuộc gặp gỡ giữa người trẻ và người già, giữa sự tuân giữ và lời tiên tri. Chúng ta đừng coi hai thực tai này chống đối nhau. Hãy để Chúa Thánh Thần linh hoạt cả hai, và dấu chỉ của cuộc găp gỡ đó là niềm vui: niềm vui của sự tuân giữ, bước đi trong một luật sống và niềm vui được Thần Khí hướng dẫn, không bao giờ cứng nhắc, không bao giờ khép kín, nhưng luôn luôn rộng mở cho tiếng Chúa, nói, mở ra và hướng dẫn. Lúc 12 giờ trưa Đức Thánh Cha đã xuất hiện tại cửa sổ Dinh Tông Tòa để dọc kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn hữu và du khách hành hương tụ tập tại quảng trường Thánh Phêrô. Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đề cao tần quan trọng của đời sống thánh hiến đối với Giáo Hội. Ngài nói trình thuật Phúc Âm kể lại biến cố dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh theo luật lệ Do thái là một hình ảnh ý nghĩa diễn tả việc hiến dâng cuộc sống mình cho Thiên Chúa của những người noi gương Chúa Giêsu đồng trinh, khó nghèo và vâng lời, Đấng được thánh hiến của Thiên Chúa Cha. Áp dụng cho mọi kitô hữu Đức Thánh Cha nói: Sự dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa liên quan tới mọi kitô hữu, bởi vì tất cả chúng ta đươc thánh hiến cho Người qua bí tích Rửa Tội. Tất cả chúng ta được mời gọi dâng mình cho Thiên Chúa Cha với Chúa Giêsu và như Chúa Giêsu, biến cuộc đời chúng ta trở thành một món qùa quảng đại, trong gia đình, trong công việc làm, trong việc phụng sự Giáo Hội, trong các công tác bác ái thương xót. Nhưng việc thánh hiến đó được sống một cách đặc biệt bởi các tu sĩ, đan sĩ và giáo dân tận hiến giữa đời, mà với việc tuyên xưng các lời khấn họ thuộc vè Thiên Chúa một cách trọn vẹn và triệt để. Việc tùy thuộc Chúa cho phép những người sống một một cách đích thực cống hiến một chứng tá đặc biệt cho Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Hoàn toàn được thánh hiến cho Thiên Chúa, họ hoàn toàn được trao phó cho các anh em khác để đem ánh sáng Chúa Kitô tới nơi đâu có bóng tối dầy đặc, và phổ biến niềm hy vọng trong các con tim mất tin tưởng. Đức Thánh Cha giải thích thêm về đời thánh hiến như sau: Các người thánh hiến là dấu chỉ của Thiên Chúa trong các môi trường cuộc sống khác nhau, họ là men giúp một xã hội lớn lên công bằng và huynh đệ hơn, lời tiên tri chia sẻ với các người bé nhỏ nghèo hèn... Mỗi một người thánh hiến là một ơn của Thiên Chúa trên đường đi. Cần có các sự hiện diện này biết bao nhiêu, cho việc củng cố và canh tân dấn thân phổ biến Tin Mừng, cho việc giáo dục kitô, cho việc bác ái đối với các người cần được trợ giúp, cho việc cầu nguyện chiên niệm, cho dấn thân đào tạo nhân bản và tinh thần cho người trẻ và các gia đình, và cho dấn thân cho công lý và hòa bình trong gia đình nhân loại. Giáo Hội và thế giới cần đến chứng tá này của tình yêu và lòng thương xót Chúa. Vì thế cần đánh gía cao với lòng biết ơn các kinh nghiệm của đời sống thánh hiến và đào sâu việc hiểu biết các đặc sủng và nền tu đức khác nhau. Cần phải cầu nguyện để người trẻ trả lời ”có” với Chúa là Đấng gọi họ tân hiến cho Người để phục vụ các anh em chị em khác một cách vô vị lợi. Chình vì các lý do đó nên năm 2015 sẽ là Năm của đời thánh hiến. Ngay từ bây giờ chúng ta hãy phó thác sáng kiến này cho sự bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria và Cha Thánh Giuse, như là cha mẹ Chúa Giêsu đã là những người đầu tiên được thánh hiến bởi Chúa và thánh hiến cuộc sống các Ngài cho Người. Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người. Sau kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha nhắc tới Ngày cho sự sống được Hội Đồng Giám Mục Italia phát động cử hành Chúa Nhật hôm qua về đề tài ”Sinh ra tương lai”. Ngài khích lệ các hiệp hội, các phong trào và trung tâm văn hóa dấn thân bảo vệ và thăng tiến sự sống. Cùng với các Giám Mục ngài tái nhấn mạnh rằng: ”Mọi con cái là gương mặt của Chúa là Đấng yêu thương sự sống, là ơn cho gia đình và cho xã hội” (Sứ điệp cho Ngày sự sống lần thứ 36). Mỗi người đều được mời gọi yêu thương và thăng tiến sự sống, đặc hiệt sự sống của những người yếu đuối cần được chú ý săn sóc, từ lòng mẹ cho tới khi kết thúc trên traí đất này. Đức Thánh Cha cũng chào Đức Hồng Y Giám quản và những người dấn thân linh hoạt Ngày sự sống trong giáo phận Roma, cũng như các giáo sư đại học đã tổ chức các cuộc hội thảo về các vấn đề sinh sản nhân dịp này..”          (Linh Tiến Khải chuyển ý, RadioVaticana 06.02.2014)
VATICAN. ĐTC Phanxicô mời gọi các bạn trẻ sống tinh thần thanh bần: tự do đối với những của cải vật chất, quan tâm săn sóc người nghèo, và học hỏi sự khôn ngoan nơi họ. Ngài đưa ra lời nhắn nhủ trên đây trong Sứ điệp công bố hôm 6-2-2014, nhân Ngày Quốc Tế giới trẻ sẽ được cử hành cấp Giáo Hội địa phương vào chúa nhật lễ lá 13-4-2014 tới đây với chủ đề ”Phúc cho ai có tinh thần thanh bần vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Đây là bước đầu trong 3 chặng trên hành trình tiến về Ngày Quốc Tế giới trẻ sẽ được cử hành ở cấp hoàn cầu vào năm 2016 tới đây tại Cracovia, Ba Lan. Đề tài ngày Quốc Tế giới trẻ năm tới, 2015, là ”Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8) và sau cùng năm 2016 sẽ có chủ đề là ”Phúc cho ai có lòng thương xót vì họ sẽ được xót thương” (Mt 5,7). Trong sứ điệp, sau khi đề cao sức mạnh cách mạng của các Mối Phúc trong Tin Mừng, ĐTC mời gọi các bạn trẻ hãy can đảm đi ngược dòng, tìm kiếm hạnh phúc chân thực, mở rộng con tim tìm kiếm những sự cao cả, và đừng hài lòng với cuộc sống tầm thường, nhỏ bé. ”Các bạn đừng chấp nhận văn hóa tạm thời, hời hợt và loại bỏ, không làm cho các bạn có khả năng lãnh nhận trách nhiệm và đương đầu với những thách đố lớn của cuộc sống!”. ĐTC đặc biệt giải thích ý nghĩa mối phúc thanh bần, và nêu rõ 3 điểm giúp các bạn trẻ sống Mối Phúc này một cách cụ thể: - Trước tiên, ”các bạn hãy cố gắng giữ thái độ tự do đối với sự vật. Chúa kêu gọi chúng ta sống cuộc sống Tin Mừng, với tinh thần điều độ, không chiều theo văn hóa tiêu thụ. Cố gắng tìm kiếm những gì thiết yếu, học cách từ bỏ bao nhiêu thứ dư thừa và vô ích, bóp nghẹt chúng ta. Chúng ta hãy từ bỏ sự ham hố sở hữu của cải, con tiền bạc như thần tượng, rồi phung phí!.. Hãy đặt Chúa Giêsu ở chỗ đứng thứ nhất, Ngài có thể giải thoát chúng ta khỏi những thứ thần tượng biến chúng ta thành nô lệ. Hỡi các bạn trẻ, hãy tín thác nơi Thiên Chúa! Ngài biết chúng ta, yêu thương và không bao giờ quên chúng ta...” - Thứ hai là hoán cải đối với người nghèo. Chúng ta phải chăm sóc họ, nhạy cảm đối với những nhu cầu tinh thần và vật chất của họ. Các bạn trẻ có nghĩa vụ đặc biệt là đặt tình liên đới ở trung tâm nền văn hóa của con người. Đứng trước những hình thức nghèo đói mới mẻ, như nạn thất nghiệp, xuất cư, bao nhiêu thứ nghiện ngập, chúng ta có nghĩa vụ tỉnh thức và ý thức, khắc phục cám dỗ dửng dưng lãnh đạm. Chúng ta cũng hãy nghĩ đến những người không cảm thấy được yêu thương, không có hy vọng tương lai, từ khước dấn dân trong cuộc sống vì nản chí, thất vọng, sợ hãi. Chúng ta phải học ở với người nghèo. Đừng làm đầy miệng chúng ta bằng những lời đẹp đẽ về người nghèo! Hãy gặp gỡ họ, nhìn tận mắt họ và lắng nghe họ. Người nghèo đối với chúng ta là cơ hội cụ thể để gặp chính Chúa Kitô, động chạm đến thân mình đau khổ của Ngài”. - Thứ ba là những người nghèo không phải chỉ là những người chúng ta trao tặng, giúp đõ, nhưng họ cũng có rất nhiều điều trao và dạy cho chúng ta. Chúng ta có thể học được nhiều điều nơi sự khôn ngoan của người nghèo! Các bạn hãy nghĩ đến một vị thánh ở thế kỷ 18, Benedetto Giuseppe Labre, đã ngủ trên đường phố Roma, sống bằng của bố thí của dân chúng, đã trở thành cố vấn tinh thần của bao nhiêu người, trong đó có cả những nhà quí tộc và giám chức. Theo một nghĩa nào đó, người nghèo giống như thầy của chúng ta. Họ dạy chúng ta rằng một người có giá trị không phải vì những gì họ sở hữu. Một người nghèo, tuy thiếu thốn vật chất, nhưng vẫn giữ nguyên phẩm giá của họ. Người nghèo có thể dạy chúng ta rất nhiều về sự khiêm nhường và lòng tín thác nơi Thiên Chúa”.        (G. Trần Đức Anh OP, RadioVaticana 06.02.2014/ SD 6-2-2014)
Khi lấy tên Thánh Phanxicô, vị tu sĩ từng “cởi truồng” công khai để dứt khoát từ bỏ giầu sang, đức đương kim giáo hoàng đã cho thấy, đối với ngài, Giáo Hội phải là một Giáo Hội nghèo cho người nghèo. Và ngài không bỏ lỡ một cơ hội nào để lặp đi lặp lại chủ đề nòng cốt của triều đại giáo hoàng này. Mùa Chay đương nhiên là dịp để nhắc lại chủ đề trên. Và tuy còn 5 tuần lễ nữa mới tới Mùa Chay 2014. Nhưng ngày 4 tháng Hai vừa qua, Đức Phanxicô đã cho công bố sứ điệp Mùa Chay của ngài, nhấn mạnh tới nghèo khó và nhất là sự nghèo khó của Chúa Kitô. Nhân dịp này, thiết tưởng nên tìm hiểu cái hiểu của Thánh Phanxicô về ý niệm nghèo. Cha Dwight Longenecker cho rằng với Thánh Bênêđíctô, đời sống cộng đoàn đòi các đan sĩ phải sống nghèo, theo nghĩa, tuy được sử dụng mọi của cải của cộng đoàn, nhưng cá nhân đan sĩ không sở hữu bất cứ tài sản nào. Thánh Bênêđíctô không hẳn coi nghèo là một nhân đức. Trái lại, thánh Phanxicô muốn cưới “Công Nương Nghèo” và chủ trương rằng sống nghèo là một nhân đức. Nhưng nghèo, theo ngài, không phải là bác bỏ mọi sự tốt lành ở trên đời, là coi mọi của cải vật chất như là ô uế hay xấu xa, vốn là chủ trương của phái nhị nguyên theo Manikêô. Thánh Phanxicô coi mọi của cải vật chất đều tốt cả, nhưng ta sẽ vui hưởng chúng tốt nhất bằng cách không sở hữu chúng hay không vơ vét chúng cho riêng mình. Cái nghèo của ngài do đó là khẳng nhận mọi sự chứ không bác bỏ mọi sự. Điều cần bác bỏ là sở hữu tư riêng để phát triển trong ta thái độ siêu thoát Kitô thực sự. Siêu thoát trong các tôn giáo Đông Phương thường được hiểu là siêu thoát khỏi thế giới vật lý vì nó thấp hơn thế giới tâm linh. Nhưng siêu thoát Kitô Giáo có khác. Kitô hữu được kêu gọi siêu thoát khỏi những sự vật vật chất để gắn bó một cách thích đáng với mọi sự vật. Thi sĩ Thomas Traherne viết rằng “Con người chỉ công chính nếu biết yêu mọi sự vật theo giá trị của chúng”. Nói tóm lại, Kitô hữu phải siêu thoát khỏi mọi của cải của mình để có thể yêu chúng, và mọi sự vật khác,theo giá trị thực sự của nó. Một nhà buôn, vì thế, vẫn cứ buôn bán phát đạt nhưng sống đạm bạc và dùng của cải cho các mục tiêu chính đáng là người sống nghèo. Linh mục Longnecker cho hay ngay một người biết thưởng thức một điều gì đó vì giá trị nội tại của nó và vì biết giá trị ấy và hưởng nó với một tâm tình biết ơn là người có tinh thần nghèo khó hơn người lấy nghèo khó làm lối sống để khoe khoang. Có thể nói nghèo là bằng lòng và biết ơn đối với những gì ta đang có. Nghèo giải thoát ta khỏi xa hoa, tức khỏi ý muốn sống phô trương trống rỗng. Đức Hồng Y Robert Sarah, chủ tịch Hội Đồng “Cor Unum”, là cơ quan có nhiệm vụ phân phối sứ điệp của Đức Giáo Hoàng, cũng nhấn mạnh tới khía cạnh ý niệm Kitô Giáo có khác với ý niệm thông thường về nghèo. Trong cuộc họp báo ngày 4 tháng Hai vừa qua, nhân dịp công bố sứ điệp Mùa Chay của Đức Phanxicô, Đức HY Sarah nhận định rằng: thông thường, người ta hiểu: nghèo là thiếu của cải vật chất. Muốn hiểu nghèo theo Kitô Giáo, người ta phải lấy Chúa Kitô làm qui chiếu, “Đấng đã tự ý ra nghèo để làm ta ra giầu có nhờ cái nghèo của Người”, như Thánh Phaolô nói trong thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô. Thành thử, cái nghèo của Chúa Kitô có chiều kích tích cực nghĩa là để chúng ta nên giầu có, hay nói cách khác để chúng ta ra hạnh phúc: phúc thay ai nghèo khó! Đức Phanxicô đi sâu hơn bằng cách cho thấy cái nghèo của Chúa Kitô chính là kho báu vĩ đại nhất của Người, sự giầu có vô biên của Người. Nơi Chúa Kitô “nghèo là giầu” và “giầu là nghèo”. Sự giầu có này là “sự giầu có khôn dò” (Eph. 3:8). Cũng theo Đức Phanxicô, cái nghèo của Chúa Kitô hệ ở chỗ Người tuyệt đối tin tưởng Chúa Cha, tin tưởng khôn nguôi, lúc nào cũng mong mỏi thể hiện ý muốn của Chúa Cha, làm Chúa Cha được vinh danh. Chính trong chiều hướng trên, trích dẫn triết gia Công Giáo Leon Bloy, Đức Phanxicô cho hay: “chỉ có thứ nghèo thực sự này là không sống như con cái Thiên Chúa và như anh chị em của Chúa Kitô”. Dựa vào điều này, Đức HY Sarah muốn người ta lưu ý tới công thức “Giáo Hội nghèo cho người nghèo” của Đức Phanxicô. Không thể đặt một Giáo Hội như thế ở thế “kình chống với một Giáo Hội của giáo huấn và của chân lý, một Giáo Hội chuyên chăm cầu nguyện và bảo vệ tín lý và luân lý”. Nghèo và cơ cực Thành thử, Đức Phanxicô nhấn mạnh: cách cứu nhân độ thế của Kitô hữu không phải dựa vào “các tài nguyên nhân bản”. Ta chỉ có thể cứu nhân loại và thế giới “qua cái nghèo của Chúa Kitô, Đấng đã trở nên nghèo trong các bí tích, trong lời Người nói và trong Giáo Hội của Người. Sự giầu có của Thiên Chúa không được chuyển giao qua sự giầu có của ta, mà luôn luôn và tuyệt đối được chuyển giao qua sự nghèo khó bản thân và cộng đoàn của ta, được Thần Trí Chúa Kitô làm cho nên men” Nhưng ta được kêu gọi phải đương đầu với cảnh nghèo của anh chị em ta, phải đụng chạm tới cái nghèo ấy, phải biến nó thành cái nghèo của ta và phải đưa ra các biện pháp thực tiễn để làm nhẹ bớt cảnh nghèo này. Theo Đức Giáo Hoàng, nghèo khó có khác với cơ cực (destitution). Cơ cực là nghèo đến mất cả đức tin, mất cả đức cậy và sự hỗ trợ. Ngài bảo: có ba loại cơ cực: cơ cực vật chất, cơ cực tinh thần và cơ cực tâm linh. “Cơ cực vật chất là loại cơ cực thường được gọi là nghèo. Nó ảnh hưởng tới những ai đang sống trong những điều kiện ngược hẳn với nhân phẩm: họ thiếu các quyền và các nhu cầu căn bản như thực phẩm, nước uống, vệ sinh, việc làm và cơ hội phát triển về văn hóa”. Giáo Hội có nghĩa vụ “thoả mãn các nhu cầu trên và băng bó những vết thương từng làm méo mó gương mặt nhân loại”, một gương mặt vốn phản ảnh gương mặt Chúa Kitô. Các vết thương này bao gồm các vi phạm nhân phẩm con người, sự kỳ thị và lạm dụng trên khắp thế giới. Đây là các nguyên nhân gây ra cảnh cơ cực. Về cảnh cơ cực tinh thần,k Đức Phanxicô cho rằng nó “hệ ở việc làm nô lệ cho thói xấu và tội lỗi. Ngài nói rằng nhiều gia đình chịu cảnh cơ cực này khi “một thành viên trong gia đình, thường là người trẻ, trở thành nô lệ cho rượu chè, ma úy, cờ bạc hay văn hóa khiêu dâm!” Ngài thêm rằng nhiều người “không nhìn thấy ý nghĩa đời sống hay bất cứ viễn ảnh tương lai nào nữa” và đã đánh mất hy vọng vì thất nghiệp, các điều kiện bất xã hội, hay không được giáo dục hay chăm sóc sức khỏe thỏa đáng. Loại cơ cực này liên hệ mật thiết với loại cơ cực tâm linh là loại cơ cực khi ta quay lưng với Thiên Chúa và từ khước tình yêu của Người. Nếu ta nghĩ ta không cần tới Thiên Chúa và có thể tự mình làm được, thì thế nào ta cũng thất bại, vì chỉ có Thiên Chúa mới thực sự cứu được ta và giải thoát ta. Chỉ có Tin Mừng mới xử lý được loại cơ cực này. Đức Giáo Hoàng khuyến khích tín hữu “noi gương Chúa Kitô, Đấng đã trở nên nghèo để làm ta nên giầu có nhờ sự nghèo khó của Người”. Trong diễn trình trở nên nghèo để làm ta nên giầu có này, ta thấy có khía cạnh bị mất đi và hy sinh. Ngài cho rằng Mùa Chay là mùa thích hợp để từ bỏ hòng giúp đỡ và làm người khác giầu có bằng sự nghèo khó của ta. “Đừng quên rằng sự nghèo khó thật bao giờ cũng gây đau đớn… Tôi không tin tưởng có thứ bác ái nào lại không gây tốn kém và không gây đau đớn”. Đức Hồng Y Sarah cho rằng quan điểm bao quát hơn của Đức Phanxicô về nghèo khó và cơ cực đưa ra một “viễn kiến đầy đủ” hơn về con người và các nhu cầu của họ mà không rơi vào cạm bẫy của chủ nghĩa giản lược nhân học (anthropological reductionism) là chủ nghĩa cho rằng ta có thể “giải quyết mọi vấn đề của con người nhân bản bằng cách chỉ cần giải quyết các vấn đề thuộc phúc lợi thể lý và vật chất mà thôi”. Theo Đức Hồng Y, trong tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức Phanxicô cho rằng ưu tiên chọn người nghèo của Giáo Hội chủ yếu phải được diễn dịch thành “ưu đãi và ưu tiên chăm sóc tôn giáo”. Ngài bảo rằng ý niệm này có tính nền tảng “để đừng biến Giáo Hội thành môt cơ quan phi chính phủ”, điều ngài từng nhấn mạnh trong bài giảng đầu tiên trong chức vụ giáo hoàng. Thực vậy, Đức Hồng Y Sarah nhấn mạnh rằng: “quả thật rất đáng tiếc nếu nhìn vào người túng thiếu mà ta lại không nhận ra cảnh nghèo tâm linh thường ẩn khuất trong trái tim con người và làm họ đau đớn sâu xa, dù bề ngoài họ khá giả về vật chất. Và nếu ta muốn nắm được sứ điệp của Đức Phanxicô một cách đầy đủ, ta không nên chỉ xem sét nó theo giá trị nhân học. Tự bản chất, con người vốn là con cái Thiên Chúa”.          Vũ Văn An
WHĐ (03.02.2014) – Từ ngày 16-01-2014, mười lăm chuyên gia đã bắt đầu nghiên cứu hàng ngàn bản trả lời câu hỏi về gia đình từ khắp nơi trên thế giới gửi về. Lịch trình rất sát sao, nhưng đến lúc này vẫn được tuân thủ. Các bản trả lời đã bắt đầu được gửi về Văn phòng Tổng thư ký Thượng Hội đồng Giám mục. Một nhóm chuyên gia đang làm việc hết sức để xử lý các bản trả lời này. Đức Tổng giám mục Lorenzo Baldisseri, Tổng thư ký Thượng Hội đồng Giám mục, cho biết: “Cho đến hôm nay (ngày 30-01), đã có 30% bản trả lời của các Hội đồng Giám mục gửi đến chúng tôi qua e-mail. Có đủ các châu lục”. Đức Tổng giám mục Baldisseri chờ đợi “sẽ nhận được thêm nhiều bản trả lời vào phút chót” và ngài chắc chắn sẽ nhận được “ít nhất 70% bản trả lời của các Hội đồng Giám mục” vào tuần tới, đồng thời bảo đảm cũng sẵn sàng nhận cả những bản gửi trễ hạn. Trên thực tế, các bản trả lời nhận được “thường dài từ 10 đến 20 trang”. Một nguồn tin từ châu Âu cho biết “các giám mục Bỉ đã soạn một bản tổng kết đầu tiên dài 30 trang, sau đó phải thu ngắn lại”. Các Toà Sứ thần Toà Thánh có trách nhiệm gửi các bản trả lời trên giấy về Roma để lưu trữ. Việc phân tích khối lượng rất lớn các bản trả lời cần có phương pháp. Và công việc này đang được tiến hành. Một nhóm gồm 15 chuyên gia đã bắt tay vào việc từ ngày 16-01. Đức Tổng giám mục Baldisseri giải thích: “Họ phải xây dựng một bản phác thảo tổng hợp ban đầu, sau đó bổ sung thêm các yếu tố khác mỗi khi nhận được thêm câu trả lời. Phương pháp này sẽ rút ngắn thời gian soạn thảo bản tổng hợp”. Nhưng các yếu tố mới được gửi đến từ khắp nơi. “Vô số, hàng trăm và hàng trăm, cả từ các cá nhân cũng như từ các phong trào hay đoàn thể” được gửi trực tiếp đến Vatican. Ngoài ra, các cơ quan của Giáo triều Rôma có liên quan, chẳng hạn như Hội đồng Toà Thánh về Gia đình, cũng tham gia góp ý. Để thực hiện việc này, Đức Tổng giám mục Baldisseri đã triệu tập hai cuộc họp nội bộ của Văn phòng Tổng thư ký. Tuy nhiên, việc phân tích toàn bộ các bản trả lời là nhiệm vụ của một Hội đồng thuộc Văn phòng Tổng thư ký Thượng Hội đồng Giám mục, gồm 15 thành viên đại diện cho các giám mục trên toàn thế giới. Đứng đầu Hội đồng này là Đức hồng y Péter Erdö, Tổng giám mục Budapest, Tổng phúc trình viên của Thượng Hội đồng sắp tới về mục vụ gia đình. Hội đồng của Đức hồng y Erdö dự kiến nhóm họp vào các ngày 24 và 25 tháng Hai và sẽ soạn ra Instrumentum Laboris (Tài liệu làm việc). (Nguồn: WHĐ - Theo La-Croix)
VATICAN. Đức Thánh Cha Phanxicô gửi 414 gia đình thuộc Con đường Tân Dự Tòng đi truyền giáo tại nhiều nước trên thế giới. Nghi thức trao Thánh Giá truyền giáo đã diễn ra trong buổi tiếp kiến của ĐTC sáng ngày 1-2-2014 tại Đại thính đường Phaolô 6 dành cho 8 ngàn thành viên Con đường Tân Dự Tòng. Con đường này là một phương pháp do Ông Kiko Arguello và bà Carmen Hernander người Tây Ban Nha, đề xướng hồi năm 1967 tại khu ngoại ô thủ đô Madrid, nhắm giúp các tín hữu tái khám phá ơn gọi của bí tích rửa tội qua hành trình tân dự tòng. Tham dự cuộc gặp gỡ với ĐTC có 11 Hồng Y và hơn 50 GM các nước, những người khởi xướng và các vị trách nhiệm Con đường Tân Dự Tòng, các vị giám đốc của 100 đại chủng viện thừa sai ”Mẹ Đấng Cứu Chuộc” (Redemptoris Mater) thuộc Con đường này ở các nơi trên thế giới, các LM đã được đào tạo trong các chủng viện thuộc Con đường Tân dự Tòng ở Âu Châu cũng như các chủng sinh đang được huấn luyện, các toán giáo lý viên lưu động quốc tế và các vị trách nhiệm các cộng đoàn đầu tiên ở Tây Ban Nha và Italia. Đặc biệt có 414 gia đình được ĐTC sai đi truyền giáo, trong đó có 174 gia đình sẽ thuộc 40 cứ điểm mới truyền giáo cho dân ngoại, như ở Trung Quốc, Ấn độ, Việt Nam, Mông Cổ, Đông Âu và Bắc Âu, thêm vào số 52 cứ điểm đã hiện hữu. Trong buổi tiếp kiến còn có 900 người con của tất cả các gia đình hiện diện. Ngoài ra cũng có hơn 100 gia đình đã đi truyền giáo ở nhiều nơi trên thế giới. Phần lớn các gia đình được ĐTC sai đi hôm 1-2-2014 là người Tây Ban Nha và Italia. Mỗi cứ điểm truyền giáo gồm 4 gia đình, một LM và 1 phụ tá tháp tùng, thường là một giáo dân hoặc một chủng sinh, một nữ tu cao niên và 3 chị trẻ cộng tác vào sứ vụ truyền giáo cho dân ngoại. Trong bài huấn dụ, ĐTC nhiệt liệt cám ơn niềm vui đức tin cũng như lòng nhiệt thành làm chứng tá Kitô của các thành viên Con đường Tân Dự Tòng, đồng thời ngài nhắn nhủ họ 3 điều: - Thứ I là hết sức quan tâm kiến tạo và bảo tồn tình hiệp thông trong các Giáo Hội địa phương nơi họ đến hoạt động. Con đường có đoàn sủng và sức năng động riêng. Điều này có nghĩa là đặt mình lắng nghe đời sống của các Giáo Hội nơi anh chị em được các vị phụ trách gửi tới, đề cao giá trị những điều phong phú của địa phương, nếu cần thì chịu đau khổ vì những yếu đuối của họ, đồng hành như một đoàn chiên duy nhất dưới sự lãnh đạo của các vị Mục Tử của Giáo Hội địa phương. - Thứ hai là đặc biệt chú ý đến bối cảnh văn hóa nơi các gia đình anh chị em đi tới hoạt động. Đây là những môi trường nhiều khi rất khác biệt với môi trường xuất xứ của anh chị em.. Điều rất quan trọng là cố gắng học các nền văn hóa anh chị em gặp, biết nhận ra nhu cầu Tin Mừng hiện diện ở mọi nơi, và cả hoạt động mà Chúa Thánh Linh đã thực hiện trong đời sống và lịch sử của mỗi dân tộc. - Thứ ba là hãy chăm sóc nhau với tình yêu thương, đặc biệt là những người yếu thế nhất. Con đường Tân Dự Tòng, trong tư cách là một hành trình khám phá bí tích rửa tội của mình, là một con đường nhiều đòi hỏi, trên đó một anh chị em có thể gặp những khó khăn bất ngờ. Trong những trường hợp ấy, sự thực thi lòng kiên nhẫn và lòng từ bi từ phía cộng đoàn chính là dấu chỉ sự trưởng thành trong đức tin. Không thể cưỡng bách tự do của mỗi người, và phải tôn trọng các sự chọn lựa của người quyết định tìm kiếm bên ngoài Con đường Tân Dự Tòng, những hình thức khác của đời sống Kitô giúp họ tăng trưởng trong việc đáp lại tiếng gọi của Chúa. Con đường Tân Dự Tòng hiện nay có mặt ở 124 quốc gia 5 châu, thuộc 1.479 giáo phận với 20.432 cộng đoàn hiện diện trong 6.272 giáo xứ. Con đường này cũng có 100 đại chủng viện giáo phận thừa sai Mẹ Đấng Cứu Chuộc với 2.300 đại chủng sinh giáo phận đang chuẩn bị tiến lên chức linh mục; 1.880 linh mục giáo phận đã xuất thân từ các đại chủng ven đó, hơn 1 ngàn gia đình đang thi hành sứ vụ truyền giáo tại 93 quốc gia và 92 cứ điểm truyền giáo cho dân ngoại. (G. Trần Đức Anh OP, RadioVaticana 01.02.2014/ SD 1-2-2014)
Nụ Cười Bất Tận Tạp chí “Những người ra đi” (1) số dành riêng cho hội thừa sai Pari đã phác họa chân dung vị thánh Tử Đạo trẻ trung, linh mục Théophane VÉNARD VEN như sau: “Phải nói rằng khi anh chào đời một đóa hồng nở trên môi, một cánh chim cất tiếng líu lo bên tai. Bởi vì khi anh diễn tả ý mình, lời anh tràn ngập những hình ảnh dễ thương dịu dàng duyên dáng. Mối tình thân từ nhỏ cũng như sau này, anh càng duy trì bền vững ngày càng đậm đà, ngọt ngào và thánh thiện. “Đời anh là một bài ca trong lúc vui lúc buồn. Từ những biến cố thời học sinh cho đến lòng sốt sắn khi gia nhập hàng tư tế. Anh hát lên khi rời đất Pháp, anh hát lên khi thấy đất Việt Nam. “Trong những lá thư dài và thường xuyên, anh kể lại cho gia đình từng chi tiết anh gặp trong đời. Đối với anh đời tông đồ sao mà thoải mái, vui tươi dễ yêu đến thế ! Anh thi vị hóa tất cả: Với anh việc cực nhọc thành nhẹ nhàng, gánh nặng nên nhẹ nhõm, bệnh tật không làm anh nản chí, anh coi như cơ hội thưởng ném những giây phút nghỉ ngơi, các cuộc hành trình qua đồng lầy, núi cao hay trên đường sỏi đá, anh diễn tả dưới màu sắc tươi mát như đi dạo giữa mùa xuân. Anh quả là cây huệ có sức mạnh của cây sồi. Chúng ta chỉ có thể đoán ra những cực hình anh chịu, vì anh mô tả chúng đằng sau những cánh hoa kỳ diệu, mà anh không ngừng gieo trồng tung vãi mọi nơi cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Những cánh hoa đó nở rộ trong công việc của anh, nở trong những cực hình, nở trong cũi gỗ, nở trên những dụng cụ tra tấn và nở ngay trên mảnh đất thấm máu đào của anh. Quan tòa cũng trở thành bạn hữu, lý hình cũng phải tỏ lòng ngưỡng mộ, đối với anh, nhát gươm chém đầu định mệnh cũng chỉ là “ngắt nhẹ cánh hoa tuyển lựa, để trang hoàng trên bàn thờ”. Tìm viên ngọc Viễn Đông Gioan Théophane Vénard sinh ngày 21-11-1829 sinh tại Saint Loup sur Thouet, thuộc thị trấn Deux Sèvres nước Pháp. Thân phụ ông là Gioan Vénard, thân mẫu là bà Marie Gueret. Gioan Théophane Vénard chịu ảnh hưởng rất nhiều nơi thân phụ. Chính ông dạy dỗ và gợi lên trong cậu ước nguyện làm linh mục. Cũng chính ông gởi gắm cậu cho cha xứ để học tiếng Latinh. Năm 14 tuổi, thân mẫu cậu qua đời, chị mélanie trở thành người bảo mẫu hiền dịu, đã cùng với thân phụ chăm sóc khích lệ cậu vượt qua mọi khó khăn thời chủng viện, và thư từ thường xuyên với linh mục Vénard trên bước đường truyền giáo sau này. Mãn khóa triết học sau này, thày Vénard được chuyển qua giáo phận Poitiers tiếp tục khóa thần học (1848). Qua các thư từ gởi cho thân phụ, ta biết thầy Vénard tại Poitiers đã thao thức nhiều về việc truyền giáo. Do đó, ngay sau khi lãng chức phó tế, thầy xin gia nhập hội thừa sai giáo phận. Năm 1852, thầy được Đức cha Piô phong chức linh mục, vị tân linh mục nôn nao chờ ngày được phái dến Việt Nam. Ngày 23-09-1852, cha xuống tàu ở cảng Anvers để thế chân thừa sai mới bị trục xuất  khỏi Việt Nam. Sau bốn tháng rưỡi bập bềnh trên biển cả, cha Vénard đến Singapo. Nơi đây cha gặp bốn chủng sinh Việt Nam với những xúc động sâu xa, vì cha coi họ là anh em của các vị tử đạo. Sau đó cha được đưa đến Hồng Kông chờ cơ hội. Ở đây cha nỗ lực học thêm tiếng Hán. Trong một lá thư viết từ Paris, cha Darran nói với cha Vénard rằng: “Thưa cha, viên ngọc quý Việt Nam được trao cho cha rồi đó.” (02.1854). Ngày 13-07-1854 cha cập bến Cửa Cấm, và được tiếp đón cách long trọng tại tòa Giám Mục Vĩnh Trị, trụ sở Đức Cha Retord Liêu đang phụ trách giáo phận Tây Đằng Ngoài. Sau vài tháng học tiếng  cha tháp tùng Đức Cha đi kinh lý khắp nơi, và dạy học ở chủng viện. Đầu tháng 03-1857, viên tri huyện Vĩnh Trị là bạn thân Đức Cha Retord, trước khi đem quân đến vây bắt, ông đã báo tin cho biết, nhờ đó Đức Cha Retord và cha Charbonnier chạy thoát (cha Lê Bảo Tịnh ra trình diện). Từ đây bắt đầu những ngày lưu lạc của cha Ven, nay đây mai đó không lúc nào yên ổn. Tù tội vì yêu thương Ngày 30-11-1860, nhân lúc cha đang ở Kẻ Bèo, viên Cai Đội đem 5,6 chiếc thuyền  chở khoảng 20 người đến vậy bắt cha. Cha liền trốn giữa vách đôi của căn nhà, cai đội thét lớn tiếng: “Tây dương đạo trưởng đâu ra đây ngay”. Thầy giảng Phêrô Khang tìm cách nói  tránh đi: “Ở đây chỉ có tôi thôi. Ông Cai thương tôi được nhờ, ông Cai bắt tôi đành chịu”. Vì đã được mật báo, viên cai đội cho lệnh trói thầy, rồi đi thẳng tới vách nhà vị thừa sai đang ẩn, và đập thật mạnh bật tung miếng ván che ra, bắt cha Vénard Ven nhốt vào củi  giải về Thăng Long (Hà Nội). Trong những ngày chờ đợi, một viên tổng trấn đối xử với cha một cách lịch sự. Ông cho đóng một chiếc cũi rộng hơn một chút và trói cha bằng sợi dây xích nhẹ nhất. Thỉnh thoảng còn mời cha lên phủ ăn cơm như người tự do. Nhưng thời gian đó kéo dài không bao lâu. Trong lá thư gởi cho gia đình, qua chị Mélanie, cha kể: “Em đã đến Kẻ Chợ (tên cũ của Hà Nội). Cả nhà thử tưởng tượng coi: Ngồi bó gối trong cũi gỗ, tám người lính khiêng hai bên, đám đông dân chúng ồn ào bu lại nhìn xem. Em nghe họ nói: 'Chàng Âu Châu này dễ thương quá. Anh ta thản nhiên và vui tươi như đi dự lễ tiệc, chẳng tỏ vẻ gì là sợ hãi cả'. Em cầu nguyện với Nữ Vương các Thánh Tử Đạo, xin Đức Mẹ phù trợ cho người tôi tớ  nhỏ bé của Mẹ. Mới đầu quan tòa cho em uống một chén trà. Em bị ngồi cũi nhưng em uống một cách thản nhiên. Rồi quan tra hỏi như thường lệ: - Anh đến An Nam để làm gì ? - Tôi đến đây chỉ để giảng đạo thật. - Anh bao nhiêu tuổi rồi ? - Thưa, ba mươi mốt. Viên quan tỏ vẻ thương cảm thốt lên: “Hắn còn trẻ quá”. Rồi ông hỏi: “Ai sai anh đến đây?” Em đã đáp: “Không phải vua quan đất Pháp gởi tôi đi. Tôi muốn đi rao giảng đạo lành cho mọi người, và các bề trên trong đạo gởi tôi đến Việt Nam.” Khi viên quan muốn gán cho cha tội xâm lược của Pháp, cha khẳng khái trả lời: “Không bao giờ chúng tôi ủng hộ quân viễn chinh đâu. Nếu không tin cứ để tôi đến gặp họ, tôi sẽ khiển trách việc họ đến gây chiến. Nếu tôi thất bại xin tình nguyện về đây nộp mạng. - Hãy đạp lên Thánh Giá anh sẽ thoát chết. - Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo Thập Giá, sao tôi làm như thế được ? Tôi thiết nghĩ cuộc sống đời này đâu quá quý, đến độ tôi phải mua nó bằng cái giá bội giáo. Ngày 03-01-1861, cha viết thư cho Đức Cha  Theurel: “Gươm đã ở kề sát bên cổ mà con chẳng rùng mình chút nào. Thiên Chúa nhân lành đã hộ trợ sự yếu đuối của con, nên con thấy vui mừng. Thỉnh thoảng con lại cất cao tiếng hát trong cung điệu này: Lạy Mẹ dấu yêu Xin thương đặt con Trong Quê đời đời Bên thánh nhan Người. Lạy Mẹ Vô Nhiễm, khi đầu con rơi xuống dưới đầu gươm của lý hình, xin nhận lấy tôi tớ nhỏ bé như trái nho chín được hái, như bông hồng nở rộ, được ngắt về dâng kính Mẹ AVE MARIA”. Nhờ một giáo hữu tên Hương dẫn lối, linh mục Thịnh đã đến bên cũi của vị thừa sai giải tội cho cha. Sau lại nhờ một bà đạo đức chuyển cho cha một hộp nhỏ đựng mình thánh chúa. Cha Vénard Ven cung kính chầu thánh thể cho đến nửa đêm, rồi mới chịu lễ. Một lần khi trao mình thánh bị phát hiện, bà này nhanh miệng giải thích là thuốc bổ để trị bệnh. Ngàn thu vĩnh phúc Ngày 02-02-1861, nghe quan tuyên đọc bản án trảm quyết, cha Vénard Ven liền mặc áo lông cừu trắng toát mà cha may riêng để mặc trong ngày tử đạo. Cha muốn mặc trang phục đại lễ. Một toán lính độ 200 người và hai sĩ quan cỡi voi áp giải vị anh hùng đức tin ra pháp trường. Suốt nửa giờ hành trình, cha không ngừng hát thánh ca và kết thúc bằng lời kinh “Magnificat”, lời kinh tạ ơn của Đức Mẹ thuở xưa. Tới nơi đã định, lính tháo gông cùm cho cha. Cha liền đứng trên chiếc chiếu đã được trải sẵn, và nhìn khắp tứ phía có ý tìm cha Thịnh để lãnh ơn tha thứ lần cuối. Nhưng cha Thịnh vì không rõ giờ hành quyết nên chưa đến. Một lý hình thấy chiếc áo cha mặc đẹp quá nên tình nguyện chém cha. Anh ta nói dối rằng cha phải xử lăng trì để cha cởi áo ra cho hắn lấy. Hắn còn đòi đút tiền để chém sao cho mau chết. Vị anh hùng chỉ cười và nói: “Có hề chi đâu, càng lâu càng tốt”. Rồi đưa tay cho hắn trói vào cột, ba hồi chiêng trống vừa dứt, lý hình vung gươm chém lần thứ nhất, gươm trượt qua một bên vào má. Nhát gươm thứ hai y bổ đầu cha ra làm đôi. Năm đó cha Ven mới 32 tuổi. Các giáo hữu phải nộp tiền để xin an táng thi hài và chuộc lại y phục của cha. Còn thủ cấp của cha thì bị bêu lên cây ba ngày rồi thả trôi sông, sau các thuyền chài vớt được đem về tôn kính. Năm 1865, Đức thánh cha Piô X suy tôn cha Gioan Théophane Vénard Ven lên bậc chân phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng rất ngưỡng mộ đời sống và những suy tư của cha Gioan Théophane Vénard Ven, thánh nữ đã trích dẫn nguyên đoạn văn cha viết cho thân phụ rồi tiếp: “Tư tưởng và tâm hồn của tôi cũng giống như tư tưởng và tâm hồn của ngài.” Lm. Đào Trung Hiệu, OP
“Chính nhờ Người, với Người và trong Người mà mọi chúc tụng và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng cùng với Chúa Thánh Thần muôn đời. Amen”. Mở Đầu Người tĩnh tâm nói ít nghe nhiều: Nghe sách, Nghe giảng, Nghe lương tâm, Nghe Chúa. Nghe không để làm giàu kiến thức, Nhưng để cải tạo bản thân. Chủ yếu không phải là tiếp thu trung thực, nhưng là dùng lời nghe đặt thành vấn đề cho chính mình. Nghe như thế đòi nhiều suy nghĩ. Ai suy nghĩ với tinh thần khiêm tốn, cầu nguyện và khát khao gặp Chúa sẽ thấy mình nên mới hơn. Vì hy vọng đó nên đã ghi lại những bài giảng này. Tất cả chủ đề đều trong Phúc Âm thánh Matthêu, đoạn 10. Chẳng có gì mới, nhưng là một sự chia sẻ chân thành trong tình anh em linh mục. “Chúa Giêsu sai các tông đồ đi” (Mt 10,5) Thế nào là người tông đồ? Rất nhiều người hiểu tông đồ là kẻ làm việc đạo. Nơi phần đông, hình ảnh người tông đồ thường được tô đậm ở nét hoạt động. Là tông đồ có nghĩa là làm tông đồ, mà làm tông đồ là phải làm, làm nhiều. Hiểu tông đồ như thế không đúng với ý nghĩa nguyên thuỷ của Tin Mừng. Theo ý nghĩa Tin Mừng thì tông đồ (apostolus) có nghĩa là kẻ được sai đi. Tông đồ là kẻ được sai đi Ý nghĩa đó nói lên ngay một điều hiển nhiên, đó là sự kẻ được sai đi phải lệ thuộc vào kẻ sai mình. Bản chất của tông đồ là được sai đi, nên mọi lựa chọn, mọi ý hướng, mọi sức mạnh vận dụng của tông đồ phải lệ thuộc vào kẻ sai mình. Một khi hiểu tông đồ là kẻ được sai đi và kẻ được sai đi phải lệ thuộc vào kẻ sai mình, thì ta thấy người tông đồ phải có hai đặc điểm sau đây: Đặc điểm thứ nhất của tông đồ là phải nhất trí với Đấng sai mình Điều đó quá dễ hiểu, kẻ được sai đi thì phải nhất trí với kẻ sai mình, nhất trí về nhiệm vụ, nhất trí về hành động, nhất trí về mục đích, nhất trí về đường lối. Mọi công phúc của tông đồ hệ tại ở sự nhất trí đó, chứ không hệ tại ở hoạt động nhiều hay ít, thành công hay thất bại. Gương mẫu của kẻ được sai đi là chính Chúa Kitô. Chúa Kitô đã được Thiên Chúa Cha sai đến với loài người. Để làm gì? Ngài trả lời câu hỏi đó cho Thiên Chúa Cha trong thưthánh Phaolô gởi tín hữu Hipri: “Này Con đến để thi hành ý muốn Cha” (Hipri 10,9). Và Ngài trả lời câu hỏi đó cho loài người trong Tin Mừng thánh Gioan: “Ta đã từ trời xuống, không phải để làm theo ý Ta, mà là ý của Đấng đã sai Ta” (Ga 6,38). Chúa Kitô nhất trí hoàn toàn với Đức Chúa Cha đến nỗi Người coi việc nhất trí đó là chính lương thực của Ngài. Trên bờ giếng Giacóp, Ngài đã quả quyết với các tông đồ: “Lương thực của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta và chu toàn công việc của Người” (Ga 4,32). Sự nhất trí của Chúa Kitô với Đức Chúa Cha là một sự nhất trí thường xuyên. Ngài nói: “Con không thể làm điều gì tự mình, nhưng mọi sự đều vì đã trông thấy Chúa làm” (Ga 5,19). Ngài nhìn mọi sự trong Chúa Cha và hành động đúng thánh ý Chúa Cha. Ngài khẳng định: “Ta không tìm kiếm ý của Ta, mà là ý của Đấng đã sai Ta” (Ga 5,30). Sự nhất trí của Chúa Kitô với Đức Chúa Cha được nổi bật nhất trong những lựa chọn căng thẳng của Ngài. Ngài đã lựa chọn ý Chúa Cha hơn mọi liên hệ gia đình thân thuộc. Ngài nói điều đó với chính Đức Mẹ và thánh Giuse: “Ba mẹ tìm con làm gì? Ba mẹ không biết con phải lo các việc của Cha con sao?” (Lc 2,49). Và lần khác Ngài nói: “Bất cứ ai thi hành ý của Thiên Chúa, thì người ấy là anh chị em và là mẹ Ta” (Mc 3,35). Ngài đã chọn lựa thân phận người tôi tớ khổ đau mà tiên tri Isaia đã loan báo hơn là đứng trong những loại người mà xã hội và tôn giáo lúc đó đang trông chờ. Ngài đã lựa chọn cái chết bi đát tủi nhục hơn là trốn tránh. Vì: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Chúa được thành sự” (Lc 22,42). Ngài sống và hành động đúng một kẻ được sai đi, nên thái độ của Ngài rất mực khiêm tốn. Ngài bảo các tông đồ: “Khi đã làm xong mọi sự truyền dạy các con, các con hãy nói: Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, không làm gì hơn là phận sự phải làm” (Lc 17,10). Ngài bảo tông đồ, thì chắc Ngài đã làm trước. Cũng vì ý thức mình là kẻ được sai đi, nên Ngài rất mực phó thác. Ngài lấy kinh nghiệm bản thân mà khuyên môn đệ: “Đừng băn khoăn về ngày mai, ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Khổ ngày nào đủ cho ngày ấy” (Mt 6,34). Ngài dạy tông đồ tin tưởng ở Cha trên trời là Đấng biết rõ những gì họ tìm kiếm. Thánh Phaolô đã coi sự nhất trí của Chúa Kitô với Đức Chúa Cha là chính lý do làm Chúa Kitô được vinh quang. “Chúa Kitô vì chúng ta đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài, và ban cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu” (Phil 2,8-9). Nhìn Chúa Kitô, ta thấy gương nhất trí của kẻ được sai đi phải là như thế với Đấng sai mình. Còn ta thì sao? Ta có thực sự nhất trí với Giáo Hội ta và với Chúa của ta không? Ta đòi cấp dưới nhất trí với ta. Nhưng chính ta có nhất trí với Bề trên ta không? Đặc điểm thứ hai của tông đồ là phải nhiệt tình với Đấng sai mình Nếu để ý nhận diện các tông đồ, ta thấy họ đã được chọn không phải vì có học, cũng không hẳn vì có nhiều nhân đức, mà trước hết vì họ là những kẻ nhiệt tình. Hai môn đệ được Chúa trao trách nhiệm lớn nhất, thánh Phêrô và thánh Phaolô, chính là hai người nổi nang nhất vì lòng nhiệt thành. Nhiệt tình với một lòng yêu mến không tính toán. Chúa gọi là đi theo, chẳng biết để làm gì, chẳng biết sau này ra sao. Rồi khi biết tương lai đầy đe doạ, họ vẫn trung thành theo Chúa, không so đo, không mặc cả. Nhiệt tình với một lòng tin tưởng tuyệt đối. Giáo lý Chúa dạy, có điều họ hiểu, có điều họ không hiểu. Nhưng dù hiểu dù không, họ đều tin hết. Đời họ đầy lao lung thử thách, họ vẫn tin vào Chúa. Nhiệt tình với một sự hăng say hiến thân quên mình tột độ. Họ là thiểu số. Bị chống đối tư bề. Của cải không có. Ăn thì ăn nhờ. Ở cũng ở nhờ. Nay đây mai đó. Bị đàn áp đủ cách. Thế nhưng họ vẫn thản nhiên loan báo Tin Mừng bằng lời giảng, bằng bác ái và bằng chính mạng sống hy sinh. Trên bình diện tâm lý, sự nhiệt tình tông đồ được sống và cảm nghiệm như một sự bận tâm ưu tiên cho Nước Trời. Cũng gọi là một sự băn khoăn đam mê vận dụng tất cả tài năng trong mình và chiếm đoạt tất cả thời khắc. Sự bận tâm ưu tiên này như dòng thác không ngừng tìm lối tràn lan. Nó khởi đi từ nguồn mến Chúa thiết tha và thương người như Chúa thương ta. Nghĩa là người tông đồ chỉ băn khoăn do tình thương và cho tình thương. Nhiệt tình của họ không có tính cách tranh giành quyền lợi với ai. Bận tâm của họ không nhằm mục đích tìm vinh quang trần thế. Họ băn khoăn góp phần vào việc đưa hạnh phúc thực sự đến cho mọi người, một thứ hạnh phúc bao trùm cả xác lẫn hồn, cả đời này lẫn đời sau. Chúa Kitô không đến để kết án nhưng để cứu độ, thì kẻ được Chúa sai đi cũng chỉ nỗ lực cởi gỡ con người khỏi mọi hình thức sự dữ và đem họ về sự thiện. Nhiệt tình như thế là một thứ lửa luôn linh động và bầng bầng bốc cháy. Trong bất cứ hoàn cảnh nào nó vẫn hiên ngang, tin tưởng và lạc quan. Ta có lửa nhiệt tình đó trong lòng không? Khi đối chiếu bản thân ta với hình ảnh tông đồ lý tưởng vừa phác hoạ trên đây, có hai trường hợp sẽ xảy ra: Một là ta thấy mình có nhất trí và có nhiệt tình với Đấng sai ta. Hai là ta thấy mình thiếu nhất trí và thiếu nhiệt tình với Đấng sai ta. Dù trường hợp thứ nhất, dù trường hợp thứ hai, ta cũng đều phải lo. Nếu là trường hợp thứ nhất ta nên lo nhiều lắm. Bởi vì biết đâu sự nhất trí và nhiệt tình ta tưởng có, thực ra chỉ là một sự nhất trí và nhiệt tình giả tạo. Anna Caipha lên án giết Chúa Giêsu mà tưởng mình làm một điều nhất trí với Kinh Thánh! Thánh Phêrô chém đứt tai người đầy tớ thầy cả mà tưởng mình nhiệt tình với Thầy chí thánh. Bảo thủ cực đoan như cựu Tổng Giám Mục Marcel Lefèvre hiện nay đang chống đối Toà Thánh và Công Đồng Vatican II cũng vẫn cho rằng mình trung thành với Phúc Âm và nhiệt tình với Giáo Hội. Những ảo tưởng như thế không phải là hiếm. Ta nên e sợ cho chính mình. Nếu là trường hợp thứ hai, ta càng phải lo nhiều hơn. Bởi vì có được nhất trí và nhiệt tình thực sự với Đấng sai ta là một điều khó. Khó ở chỗ nhất trí và nhiệt tình không phải chỉ trên những nguyên tắc, mà còn phải ở sự áp dụng những nguyên tắc đó vào thực tế hằng ngày trong hoàn cảnh hôm nay. Rồi khó ở chỗ nhất trí và nhiệt tình không phải chỉ trong ý thức, mà còn phải thấm nhập vào tất cả con người của ta, cho đến tận vô thức và các phản xạ. Để giải đáp chung cho cả hai cái lo trong hai trường hợp, ta thấy có một cách rất tốt, đó là quyết tâm trở lại cuộc sống lệ thuộc vào Chúa. Chúa đã nói rõ: “Hãy ở lại trong Ta và Ta trong các con. Cũng như nhánh nho không thể sinh trái tự mình mà không ở lại thân nho, thì các con cũng vậy, nếu không ở lại trong Ta. Cây nho, chính là Ta, các con là nhánh. Ai ở lại trong Ta và Ta trong kẻ ấy, thì sẽ sinh được nhiều trái. Vì ngoài Ta, các con không thể làm gì” (Ga 15,4-5). Sự lệ thuộc nói đây là một sự tăng thêm hiệu lực và giá trị cho ta. Vì đây là sự ta được hiệp thông vào tinh thần và sức sống của chính Thiên Chúa. Nhờ đó, ta cảm nghĩ, phán đoán, nói năng, hành động hoàn toàn nhất trí với Chúa trong một cuộc sống đầy nhiệt tình với Đấng sai ta. Thực hiện sự lệ thuộc đó, chính là thực hiện điều ta hằng ngày đọc trong thánh lễ: “Chính nhờ Người, với Người và trong Người mà mọi chúc tụng và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng cùng với Chúa Thánh Thần muôn đời. Amen”. (còn tiếp) + GM Bùi Tuần
VATICAN. ĐTC Phanxicô đã truyền duyệt lại qui luật về tương quan giữa các dòng tu và giám mục địa phương để thăng tiến sự quí chuộng hơn đối với đoàn sủng của mỗi dòng. Các qui luật vừa nói ở trong văn kiện tựa đề ”Mutuae relationes”, (Những quan hệ hỗ tương), do Bộ các dòng tu ban hành ngày 14-5-1978. Văn kiện khẳng định rằng các dòng tu là thành phần của Giáo Hội địa phương, tuy các dòng có tổ chức nội bộ riêng và có quyền tự trị, nhưng không bao giờ được coi là độc lập với Giáo Hội địa phương. ĐTC thông báo quyết định trên đây trong cuộc gặp gỡ 120 Bề trên Tổng quyền các dòng nam ngày 29-11 năm 2013, và văn bản cuộc nói chuyện này đã được tạp chí ”La Civiltà Cattolica” (Văn Minh Công Giáo), đăng tải ngày 3-1-2014 ở Roma. Ngài nói với các Bề trên rằng: ”Văn kiện 'tương quan hỗ tương' hồi đó là hữu ích, nhưng nay đã lỗi thời rồi. Các đoàn sủng của các dòng tu khác nhau cần được tôn trọng và thăng tiến, vì các dòng là những thực tại cần thiết trong các giáo phận”. Trước khi được bầu làm Giáo Hoàng hồi tháng 3 năm 2013, ĐTC Phanxicô là TGM giáo phận Buenos Aires, và trước đó ngài là Giám tỉnh dòng Tên tại Argentina. Ngài nói với các Bề trên trong cuộc gặp gỡ rằng: ”Do kinh nghiệm, tôi biết những vấn đề có thể nảy sinh giữa một Giám Mục và các cộng đồng dòng tu. Ví dụ, nếu một hôm, một dòng quyết định rút khỏi công việc vì thiếu nhân sự, GM thường cảm thấy mình bất ngờ ”bị một củ khoai nóng trong tay!”. Tôi cũng biết rằng các GM không luôn luôn biết rõ những đoàn sủng và công việc của các tu sĩ. Các GM chúng tôi cần hiểu rằng những người thánh hiến không phải là những công chức, nhưng là những món quà làm cho giáo phận được phong phú”. ĐTC cũng nhận định rằng: ”Sự can dự của các cộng đoàn dòng tu trong giáo phận là điều quan trọng. Cần phải duy trì sự đối thoại giữa GM và các tu sĩ, để các GM đừng coi các tu sĩ như những dụng cụ hữu ích chỉ vì các GM thiếu hiểu biết về các đoàn sủng của các tu sĩ”. Trong cuộc gặp gỡ ngày 29-11-2013, ĐTC cũng yêu cầu các Bề trên Tổng quyền các dòng nam hãy hoàn thành văn kiện đang được soạn thảo về các tu huynh không linh mục. Ngài nhìn nhận có cuộc khủng hoảng ơn gọi nơi các tu huynh, nhưng xác tín rằng các tu huynh vẫn có một vai trò trong đời sống tu trì. Bài báo dài 15 trang của cha Antonio Spadaro, Chủ nhiệm báo ”Văn Minh Công Giáo”, đã trưng dẫn rất nhiều nhận định của ĐTC Phanxicô tại cuộc gặp gỡ dài 3 tiếng đồng hồ về các vấn đề khác nhau, trong đó ngài không muốn đọc một bài diễn văn dọn sẵn, nhưng muốn đó là một cuộc nói chuyện thẳng thắn và tự do, ngài trả lời các câu hỏi do các Bề trên nêu lên. ĐTC nhìn nhận các dòng tu tăng trưởng tại Á Phi, nhưng ngài cũng nói đến những thách đố đối với công việc loan báo Tin Mừng tại các đại lúc đó, kể cả việc thích ứng đúng đắn giáo huấn Công Giáo vào các nền văn hóa địa phương; ngài cảnh giác chống những toan tính bóc lột các xã hội nghèo như một nguồn cung cấp ơn gọi. ĐGH cho biết: các GM Philippines đã than phiền về một số dòng tu đang thực hiện một thứ ”buôn tập sinh” tại đất nước của các vị. Ngài nói: ”Chúng ta cần cảnh giác trước những tình trạng như vậy”. Về vấn đề đào tạo, ĐTC nói rằng ”các vị giám tập và giám học phải tỏ ra nhạy cảm đối với các nhu cầu của tập sinh và tu sinh, khuyến khích họ đối thoại chân thành và thẳng thắn với các vị đào tạo. Huấn luyện là một nghệ thuật chứ không phải là một công việc của công an, cảnh sát. Chúng ta phải huấn luyện tâm hồn của họ, chẳng vậy chúng ta sẽ tạo nên những quái vật nhỏ và những quái vật này sẽ nhào nặn dân Chúa. Điều này làm cho tôi thực sự nổi da gà! Chỉ cần nghĩ đến những tu sĩ có tâm hồn ”chua như giấm”: họ không được tạo nên để phục vụ dân. Xét cho cùng, chúng ta không được đào tạo những nhân viên hành chánh, giám đốc, nhưng đào tạo các linh mục, tu huynh, những người đồng hành”. ĐTC Phanxicô không quên ca ngợi những cố gắng của ĐGH Biển Đức 16 trong việc ngăn chặn nạn giáo sĩ, tu sĩ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chọn lọc các ứng viên vào đời sống tu trì, để loại bỏ những người với những lầm lỗi không thể chữa trị được. Ngài nói: ”Tất cả chúng ta đều là người tội lỗi, nhưng không phải tất cả chúng ta đều là những người ung thối hư hỏng. Người tội lỗi được chấp nhận, nhưng không thể chấp nhận những người ung thối, hư hỏng”.                 (G. Trần Đức Anh OP, RadioVaticana 04.01.2013/ CNS 3-1-2014)
  1. Thông điệp MYSTERIUM FIDEI về Bí Tích Thánh Thể Những thay đổi về Phụng Vụ Thánh của Vaticanô II là một thành quả vô cùng lớn lao và hữu ích cho Giáo Hội. Toàn thể Giáo Hội hân hoan vui mừng chào đón kết quả này như một ân ban để canh tân và đổi mới Giáo Hội. Thành quả đầu tiên của Công Đồng Vaticanô II : Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh. Hiến chế này được Đức Phaolô VI long trọng công bố ngày 4/12/1963, mở ra cho Giáo Hội một kỷ nguyên mới về đời sống cầu nguyện của Giáo Hội. Ngày 25/1/1964, Đức Phaolô VI ban hành tự sắc Sacram Liturgiam công bố hiến chế về Phụng Vụ Thánh bắt đầu có hiệu lực. Tuy nhiên, chỉ hơn một năm sau, tức là vào ngày 3/9/1965 cũng chính Đức Phaolô VI phải ban hành thông điệp Mysterium Fidei về bí tích Thánh Thể, một mặt để xác định lại những giáo lý nền tảng về bí tích Thánh Thể; mặt khác để lưu ý những tự ý thay đổi, gây nên những xáo trộn và những lạm dụng trong việc cử hành phụng vụ. Canh tân Phụng Vụ là một điều tốt và rất nên làm; tuy nhiên, canh tân không có nghĩa là xóa bỏ hết tất cả những cái cũ để đưa ra những gì hoàn toàn mới mẻ, vừa sai lạc, vừa lố bịch, chẳng những không giúp củng cố đức tin cho các tín hữu mà còn tạo nên những nguy cơ trầm trọng đối với đức tin chân chính như Đức Phaolô VI đã lưu ý : “Ta tưởng như được thoáng nhìn thấy những kết quả ấy, và được thưởng thức trong niềm vui đầu mùa, việc con cái Hội Thánh Công Giáo ân cần tiếp nhận hiến chế về canh tân Phụng Vụ, việc xuất bản nhiều tác phẩm có giá trị nhằm đào sâu hơn và phổ biến cách hiệu quả hơn học thuyết về Phép Thánh Thể, đặc biệt là những liên hệ giữa mầu nhiệm này với mầu nhiệm Hội Thánh. Đó là những điều khiến ta được yên ủi và vui mừng (MF 7). Tuy nhiên, niềm vui này chưa được bao lâu thì đã thấy xuất hiện những lạm dụng, những cách trình bày sai lạc về việc canh tân, đổi mới, tạo ra những nguy cơ trầm trọng cho đức tin tinh tuyền của Giáo Hội : “ý thức trách nhiệm của ta là báo cáo cho Chư Huynh về nguy hiểm trầm trọng của những ý kiến đó đối với đức tin chân chính (MF 14), những ý kiến được tung ra làm phương hại đến đức tin và sự sùng kính Phép Thánh Thể biết bao nhiêu ! (MF 12). Trước những sai lầm đó, Đức Phaolô VI dứt khoát cần phải lên tiếng cảnh báo để kịp thời ngăn chăn những thiệt hại có thể sẽ gây ra cách nghiêm trọng cho Giáo Hội “Chư huynh đáng kính, Ta đã quyết định nói với chư huynh về vấn đề rất quan trọng này, và nhân danh quyền bính Tông Đồ của Ta, trình bày với Chư Huynh ý nghĩ của Ta về vấn đề này” (MF 13).         Để hiểu rõ bối cảnh của thông điệp Mysterium Fidei, ta nhận thấy rằng sau ngày công bố Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, có rất nhiều tác phẩm viết về bí tích Thánh Thể được tung ra. Người ta đào sâu cũng một mầu nhiệm như trong quá khứ. Trước đó, người ta chỉ tìm hiểu những gì đang diễn ra trên bàn thờ, trước mặt giáo dân và cố gắng giải thích một cách duy lý. Các nhà thần học sau này hướng đến việc tìm hiểu mầu nhiệm Thánh Thể trong mối tương quan với Giáo Hội. Các nhà thần học hiện đại này không trình bày Thánh Thể mà không nói đến hoạt động của Thiên Chúa và sự kiện Giáo Hội đang cử hành và đang sống bí tích ThánhThể. Từ Thánh Thể, họ nhận ra ý định muôn thuở của Thiên Chúa và cùng đích của nhân loại. Họ cố gắng tìm hiểu mầu nhiệm này xem nó có giá trị như thế nào trong đời sống con người và thế giới. Tóm lại, những nhà thần học hiện đại muốn đi vào thực tiễn và hiện sinh, hơn là giải thích mầu nhiệm theo lý trí. Đó chính là cái nhìn mới và hướng đi mới của thần học về bí tích Thánh Thể. Những chân lý về biến thể, về sự hiện diện đích thực, việc thờ phượng và sùng kính Thánh Thể… như là những điều đương nhiên được chấp nhận, nên không cần phải bàn luận thêm nữa. Tuy nhiên, đối với Đức Phaolô VI, trình bày về bí tích Thánh Thể như vậy là thiếu xót, là bỏ qua những tín điều, là xem nhẹ các tín điều, là làm suy yếu mầu nhiệm Thánh Thể… Chính vì thế, Đức Phaolô VI, trong thông điệp Mysterium Fidei, đã nhấn mạnh và khẳng định lại những chân lý về bí tích Thánh Thể. Có thể coi thông điệp Mysterium Fidei này là một tài liệu quan trọng nhằm triển khai “thần học về sự hiện diện của Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể và trong Giáo Hội”.Ta có thể tóm gọn lại những điểm chính yếu của thông điệp này như sau : Bí tích Thánh Thể chính là mầu nhiệm đức tin vì : 1a. Thánh Lễ tái diễn lại Hy Tế Thập Giá:         “Trong mầu nhiệm Thánh Thể có biểu lộ một cách kỳ diệu Hy Lễ Thập Giá hoàn tất một lần vĩnh viễn trên núi Calvariô. Hy Lễ này luôn luôn được thể hiện nơi Thánh Lễ để cho chúng ta tưởng niệm và hiệu lực cứu rỗi của nó được áp dụng để tha thức các tội lỗi người ta phạm hằng ngày” (MF 26-27)         “Chúa Giêsu Kitô, khi thiết lập mầu nhiệm Thánh Thể, đã lấy Máu mình mà đóng ấn Giao ước mới mà Người là Đấng Trung Gian, như Môi sen đã đóng ấn vào giao ước cũ bằng máu các con vật hy sinh… Trong khi truyền cho các Tông đồ làm việc này để tưởng nhớ đến Người, đồng thời Người muốn rằng cử chỉ đó được nhắc lại đến muôn đời” (MF 28).         “Sự dâng tiến của Giao ước mới mà ngôn sứ Malachi đã tiên báo, Giáo Hội đã được Chúa và các Tông Đồ chỉ dạy, hằng tiến dâng của lễ ấy không những để xá tội, tha hình phạt, để đền tội và giúp ích cho các nhu cầu khác của các tín hữu còn sống, nhưng cũng dâng lên, cầu cho những người đã chết trong Đức Kitô, và chưa được tinh luyện hoàn toàn” (MF 29). 1b. Thuyết Biến Thể :         “Chúa Kitô chỉ hiện diện trong bí tích này nhờ sự biến đổi tất cả chất bánh thành Mình Chúa Kitô và tất cả chất rượu thành Máu Chúa Kitô : sự biến đổi độc đáo và kỳ lạ mà Giáo Hội công giáo gọi một cách hết sức xác đáng và đúng, đó là sự BIẾN THỂ. Khi sự biến thể này đã được thực hiện, hình bánh và hình rượu dĩ nhiên có một ý nghĩa mới và một mục đích mới, bởi vì không còn là bánh thường nữa, không còn là của uống thường nữa, nhưng chỉ còn có ký hiệu chỉ một sự vật thánh và một của ăn thiêng liêng. Thế nhưng, sở dĩ những hình có ý nghĩa và mục đích mới đó là vì chúng mang một thực tại mới mà ta gọi cách chí lý là thực tại hữu thể” (MF 46).         Cho tới nay, đối với Giáo Hội công giáo, lý thuyết về sự Biến Thể vẫn được duy trì, cho dù đối với con người ngày nay, đó quả là một điều khó hiểu và khó chấp nhận. Sự Biến Thể trong bí tích Thánh Thể quả là một mầu nhiệm, một nội dung thuộc lãnh vực đức tin. Qua sự Biến Thể, Chúa Kitô hiện diện thực sự trong bánh và rượu đã được truyền phép, để ở giữa chúng ta và tiếp tục công trình cứu độ của Người cho đến tận thế.         Đương nhiên, khi bánh rượu đã thay đổi bản chất thì chúng cũng thay đổi ý nghĩa (transsignification) và thay đổi mục đích (transfinalisation). Hai điều này rất đúng và chỉ đúng khi bảo đảm được sự hiện diện đích thực của Chúa Kitô trong Thánh Thể. Cái khó khăn, cái vấn đề, cái nguy cơ là ở chỗ, khi người ta không quan tâm đến sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong hình bánh và rượu mà chỉ coi sự hiện diện đó như là một sự biểu trưng. Sở dĩ trong thông điệp Mysterium Fidei này, Đức Phaolô VI đã phải lên tiếng nhắc lại quan điểm thần học về sự Biến Thể để lưu ý Giáo Hội và lưu ý mọi người rằng người ta, khi đứng trên bình diện khoa học mà xét, người ta không thấy được mầu nhiệm đức tin này, nên dễ cho rằng, thực tế của bánh rượu vẫn không thay đổi gì sau khi linh mục đọc lời Truyền Phép. Từ đó, người ta dễ đi đến chỗ chấp nhận rằng Tiệc Thánh chỉ là một bữa ăn, qua đó, Chúa Giêsu chỉ hiện diện cách biểu trưng và tinh thần mà thôi. Người ta dễ lợi dụng thuật ngữ “Biến nghĩa” và “biến đích” để bỏ qua việc “Biến Thể” ! 1c. Sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể.         Đây quả là trọng tâm của thông điệp. Nội dung này đã được Đức Giáo Hoàng triển khai từ số 34 đến hết số 45. Đức Phaolô VI lần lượt liệt kê các cách hiện diện của Chúa trong Giáo Hội và đỉnh cao là sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Tất cả các sự hiện diện khác đều quy về sự hiện diện này. Tất cả các sự hiện diện đều đòi hỏi một sự gặp gỡ đích thực, đầy hiệu năng và phải kéo dài sự gặp gỡ này “Đức Kitô hiện diện với Giáo Hội đang cầu nguyện… Người cầu nguyện với chúng ta với tư cách là thủ lĩnh của chúng ta… Người hiện diện với Giáo Hội đang thực thi các việc bác ái… Người hiện diện với Giáo Hội đang lữ hành, khát mong tiến về đời sống vĩnh cửu, bởi vì Người hằng cư ngụ trong tâm hồn chúng ta nhờ đức tin và đổ tràn đức ái vào lòng chúng ta nhờ tác động của Thánh Thần mà chính Người đã ban cho chúng ta…. Người hiện diện cùng với Giáo Hội đang giảng dạy Phúc Âm là Lời của Người, được công bố nhân danh Người và nhờ quyền bính của Người…. Người hiện diện với Giáo Hội đang dẫn dắt, và cai quản dân Thiên Chúa, vì quyền bính của Giáo Hội là do Thiên Chúa mà đến… Người hiện diện với Giáo Hội, nhân danh Người dâng Hy Tế Thánh Lễ và cử hành các bí tích… Người hiện diện với Giáo Hội trong bí tích Thánh Thể.         Công đồng Tridentino khẳng định công khai và không úp mở rằng trong bí tích đáng kính Thánh Thể, sau khi bánh rượu được truyền phép, Đức Giêsu Kitô, là Thiên Chúa thật và là Người thật, đã hiện diện thực sự, thực tại và thực bản tính (vere, realiter et substantialiter) dưới vẻ bề ngoài của những thực tại khả giác này. Đấng Cứu Thế vì vậy hiện diện theo nhân tính không những bên hữu Chúa Cha, nhưng đồng thời trong bí tích Thánh Thể theo một thể thức hiện hữu mà ngôn ngữ chúng ta chắc chắn khó diễn đạt, nhưng trí tuệ của chúng ta, được đức tin soi sáng, có thể nhận ra và chúng ta phải tin chắc chắn như một việc Thiên Chúa có thể làm được” (MF 45). Khi nhắc lại quan điểm của Công Đồng Tridentino, Đức Phaolô VI cảnh báo các Kitô hữu trước những giải thích sai lạc về sự hiện diện đích thật của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh thể : “Vì thế, thật là sai lạc khi giải thích sự hiện diện này bằng việc gán cho thân xác vinh hiển của Chúa Kitô một bản tính thiêng liêng mà người ta gọi là linh khí (pneumatique), nên có khả năng hiện diện khắp nơi (omniprésent); hay là giản lược sự hiện diện này vào trong giới hạn của một thứ biểu trưng, bí tích đáng kính này chỉ còn là dấu chỉ hiệu năng “của một sự hiện diện thiêng liêng của Chúa Kitô và của sự kết hợp mật thiết của Người với các chi thể trong nhiệm thể” (MF 45).         Ngoài những nội dung trên, Đức Phaolô VI còn quan tâm nhắc nhở mọi tín hữu quan tâm đến việc tôn thờ Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể : “Giáo Hội công giáo chủ trương phải thờ lạy Phép Thánh Thể, không những trong Thánh Lễ mà cả ngoài Thánh Lễ nữa. –Giáo Hội phải gìn giữ hết sức cẩn thận những Bánh Lễ đã được truyền phép và trưng bày cho tín hữu kính thờ cách long trọng” (MF 56).         “Ước chi suốt ngày tín hữu đừng quên thăm viếng Thánh Thể mà người ta phải giữ nơi rất xứng đáng trong các Nhà Thờ, với hết lòng kính trọng có thể theo các luật phụng vụ. Bởi chưng, sự thăm viếng là một dấu hiệu hiếu thảo, một cử chỉ yêu đương và một nghĩa vụ tri ân đối với Chúa Kitô ngự nơi đây” (MF 66). 2. Bí tích Thánh Thể : Mầu nhiệm Đức Tin.         Mầu nhiệm, từ ngữ Hy Lạp là mysterion có nghĩa là một “điều bí mật” là một chân lý, một hữu thể, một thực tại sâu xa mà khả năng và trí năng con người không thể vươn tới được, không thể diễn tả được. Là một thực tại (nhưng lại vượt quá khả năng con người, vượt quá tầm hiểu biết của con người. Trước khi được Thiên Chúa mạc khải, lý trí con người không thể nào nghĩ tưởng ra được (x. Dan 2.1…; Mt 11,25-27), và sau khi đã được mạc khải, lý trí hữu hạn của con người cũng không thể hiểu thấu hết nội dung của chân lý ấy. Đứng trước mầu nhiệm, chúng ta chỉ còn có một thái độ thích hợp : đón nhận và tin.         Đối với các Kitô hữu, bí tích Thánh Thể quả là một mầu nhiệm lớn lao. Mầu nhiệm của tình yêu thương vô bờ của Chúa Cha đối với nhân loại tội lỗi. Ngay từ lúc nguyên tổ phạm tội, chính Chúa Cha đã có ý định và lên ngay chương trình cứu độ nhân loại khi thời gian viên mãn. Ngài hứa sẽ cứu độ con người bằng chính cái chết và sự phục sinh của Con Ngài : Thiên Chúa Ngôi Hai. Bí tích Thánh Thể còn là mầu nhiệm của lòng thương xót vô biên của Chúa Giêsu, Đấng đảm nhận thực hiện chương trình cứu độ của Chúa Cha, bằng chính cái chết đau thương của Ngài trên Thập Giá để trở thành Hy Tế Tạ Ơn của Giao Ước Mới. Mầu nhiệm ấy luôn được giữ kín trong Thiên Chúa từ ngàn đời (x. Col 1,26; Eph 3,9), một chương trình đã được vạch ra từ lâu để thực hiện khi thời gian viên mãn. Như vậy, trong mầu nhiệm Thánh Thể, tất cả đều phát xuất từ Cha và tất cả đều tập trung trong Đức Kitô. Chúa Cha là nguyên thủy, và Chúa Kitô là trung tâm. Toàn bộ chương trình cứu độ đã từ lòng Cha mà ra. Cần phải nhìn vào lòng Cha, ta mới có thể hiểu được ngọn nguồn của mầu nhiệm này. Tất cả vận mạng của thế giới, số phận đời đời của toàn thể nhân loại, đều do ý muốn chủ chốt của Cha khiến định. Chính Cha đã muốn nhận chúng ta làm con của Ngài, qua trung gian của Chúa Con, Đấng sẽ đến chuộc lại ta bằng chính Máu châu báu của Người và xin ơn tha thứ tội lỗi cho chúng ta (x. Ep 1,7).         Với thông điệp Ecclesia de Eucharistia, Đức Gioan Phaolô II, ngay trong chương I, đã khẳng định rằng : “Bí tích Thánh Thể không chỉ là việc khơi gợi biến cố khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu, nhưng còn là sự tái hiện mang tính bí tích của biến cố ấy. Đó là hy tế Thập Giá được tiếp tục trong thời gian[1]. Vì thế, ngay sau Lời Truyền Phép, linh mục long trọng công bố : “Đây là mầu nhiệm đức tin”. Toàn dân tung hô : “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết…”. Giáo Hội đã đón nhận Thánh Thể của Chúa Kitô như là một hồng ân tuyệt hảo, bởi lẽ, hồng ân đó chính là Ngài, vị Thiên Chúa cứu độ. Mỗi lần cử hành bí tích Thánh Thể là một lần tưởng niệm sự chết và phục sinh của Chúa Kitô, là hiện tại hóa Hy Tế thập giá, hiện tại hóa Giao Ước mới, là chúng ta được tham dự vào biến cố trung tâm của ơn cứu độ, như thể chúng ta đã có mặt vào chính lúc ấy. Vì thế, mỗi lần tham dự Thánh Lễ, mọi tín hữu đều có thể tham dự vào và hưởng nhờ được những hoa quả của Hy Tế Thập Giá một cách vô tận. Bí tích Thánh Thể quả là mầu nhiệm của lòng thương xót vô biên. Thử hỏi, Chúa Giêsu đã có thể làm gì hơn nữa cho chúng ta ? Trong bí tích Thánh Thể, Ngài đã tỏ cho chúng ta thấy rõ tình yêu của Ngài : một tình yêu “cho đến cùng” (x. Ga 13,1), một tình yêu không còn ranh giới (x. EdE số 11).         Tình yêu đó đã được biểu lộ qua chính những lời của Đấng Cứu Thế. Khi thiết lập bí tích này, Chúa Giêsu không những chỉ nói : “Nầy là Mình Thầy, nầy là Máu Thầy”, nhưng Ngài còn thêm : “bị nộp vì anh em” và “đổ ra vì nhiều người” ( Lc 22,19-20). Do đó, mỗi lần tham dự Thánh Lễ, ta không chỉ tưởng niệm đến Hy Tế Thập Giá, nhưng còn được hiệp thông thực sự với Thiên Chúa Ba Ngôi qua việc rước Mình và Máu Chúa (x. CCCC 1382). Trong Thánh Lễ, Hy Tế cứu độ không chỉ là một kỷ niệm đơn thuần, thuộc quá khứ, nhưng còn là một tiếp xúc hiện tại, vì hy tế này trở nên thực sự hiện diện, hiện diện luôn mãi cách bí tích, trong mọi cộng đoàn dâng lễ, qua tay của thừa tác viên được thánh hiến. Bằng cách đó, Thánh Thể làm lan rộng đến con người hôm nay sự giao hòa do Chúa Kitô thực hiện, duy nhất một lần cho toàn thể nhân loại của mọi thời. Thật vậy, “hy tế của Chúa Kitô và hy tế Thánh Thể là một hy tế duy nhất”[2].         Thánh Lễ hiện tại hóa Hy Tế Thập Giá, không thêm bớt gì mà cũng không nhân lên được [3]. Những gì được lặp lại, chính là việc cử hành bằng tưởng niệm, là việc trình bày bằng tưởng niệm của hy tế, nhờ đó, hy tế cứu độ duy nhất và dứt khoát của Chúa Kitô được hiện diện trong thời gian. Bản chất hy tế của mầu nhiệm Thánh Thể, không được hiểu như một cái gì đó hiện hữu trong chính mình, không liên hệ gì với thập giá, hay chỉ quy chiếu một cách gián tiếp về hy tế trên đồi Canvariô mà thôi.         Nhờ liên hệ mật thiết với hy tế Golgotha, bí tích Thánh Thể là một hy tế theo nghĩa đen, chứ không chỉ theo nghĩa chủng loại, như thể đây chỉ là một hiến dâng thông thường mà Chúa Kitô đã trao ban làm lương thực thiêng liêng cho các tín hữu, nhưng trước hết, sự dâng hiến trong tình yêu và trong vâng phục của Ngài cho đến chết (x. Ga 10,17-18) chính là sự dâng hiến cho Cha của Ngài, một sự dâng hiến cho Thiên Chúa Cha, Đấng đã ưng nhận và đã ban cho Con sự sống mới và vĩnh cửu trong sự phục sinh [4]. Khi ban cho Giáo Hội hy tế của Ngài, Chúa Kitô đồng thời cũng muốn biến hy tế thiêng liêng của Giáo Hội thành hy tế của mình. Giáo Hội đã được mời gọi tự hiến chính mình, cùng với hy tế của Chúa Kitô : “Khi tham dự vào hy tế Thánh Thể, nguồn suối và đỉnh cao của tất cả đời sống Kitô hữu, họ hiến dâng lên Thiên Chúa tế phẩm và tự hiến chính mình với tế phẩm đó” [5].         Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô cũng bao gồm sự phục sinh của Ngài. Thật vậy, Hy Tế Thánh Thể hiện tại hóa chẳng những mầu nhiệm khổ nạn và cái chết của Đấng Cứu Thế, nhưng còn cả mầu nhiệm phục sinh nữa, trong đó, hy tế đạt đến sự viên mãn của nó. Chính Chúa Kitô đang sống động và phục sinh, mới có thể trở nên Bánh sự sống (Ga 6,35.48), Bánh hằng sống (Ga 6,51). 3. Bí tích Thánh Thể : tiệc hiệp thông         Trong Thánh Lễ, mỗi khi chúng ta rước lễ, Hy Tế Thánh Thể tự nó hướng các tín hữu tới việc hiệp nhất thâm sâu với chúa Kitô. Qua việc rước lễ, chúng ta nhận lấy chính Ngài, Đấng đã tự hiến cho chúng ta, chúng ta nhận lấy thân mình Ngài, thân mình mà Ngài đã nộp vì chúng ta trên Thập Giá, máu mà Ngài đã đổ ra là để trở thành máu của Giao Ước mới, có mục đích rất rõ ràng là để cho nhiều người được tha tội (Mt 26,28). Việc hiệp nhất thâm sâu với Đức Kitô qua việc rước lễ ban cho chúng ta sự sống, sự sống đời đời (Ga 6,57). Thánh Thể đích thực còn là một bữa tiệc, tiệc hiệp thông, hiệp thông giữa người rước lễ với chính Đức Kitô và qua Đức Kitô, với Thiên Chúa Ba Ngôi và với anh chị em mình. Trong bữa tiệc hiệp thông đó, Chúa Kitô tự hiến làm của ăn. Đây không phải là của ăn tượng trưng nhưng “Thịt tôi là của ăn thật, và máu tôi là của uống thật” (Ga 6,55). 4. Bí tích Thánh Thể ban cho ta sự sống đời đời         Bí tích Thánh Thể, theo một nghĩa nào đó, là sự nếm trước hương vị thiên đàng, là “bảo đảm cho vinh quang sẽ tới”. Ai nuôi mình bằng Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể, không cần đợi chờ một thế giới bên kia để nhận lãnh sự sống đời đời, họ đã chiếm hữu nó ngay từ đời này, như hoa quả đầu mùa của sự sung mãn sẽ tới. Thực vậy, trong bí tích Thánh Thể, chúng ta cũng nhận được sự bảo đảm về việc xác sống lại trong ngày sau hết : “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, người ấy sẽ sống đời đời, và tôi, tôi sẽ cho họ sống lại ngày sau hết” (Ga 6,54). Bảo đảm ấy về sự phục sinh trong tương lai cốt ở chỗ thịt của Người, được trao ban làm của ăn, là chính thân xác vinh quang của Đấng Phục Sinh (x. EdE số 17-18).         Chiều hướng cánh chung trong bí tích Thánh Thể là động lực, là sự thôi thúc bước chân lữ hành của chúng ta trong lịch sử. Chiều hướng cánh chung này làm nảy sinh trong chúng ta một niềm hy vọng sống động, khi hằng ngày, cố gắng chu toàn nhiệm vụ của mình. Cái nhìn về một trời mới, đất mới, không những không làm suy yếu những hoạt động trần thế của các tín hữu, nhưng còn kích thích tâm thức của họ về trách nhiệm dấn thân chu toàn những bổn phận công dân trần thế của mình, dấn thân xây dựng một thế giới công bằng, xứng với con người và đáp ứng đầy đủ chương trình của Thiên Chúa. Cần phải cố gắng hoạt động cho hòa bình, cho công bằng và tình liên đới, bênh vực sự sống con người. Những hoạt động tích cực trên đây của các Kitô hữu và đặc biệt của các linh mục, nhằm khắc phục những mâu thuẫn trong một thế giới toàn cầu hóa, khắc phục những bất công, trong đó, những người yếu kém nhất, bé nhỏ nhất và những người nghèo khổ nhất hình như không còn gì để hy vọng. Chính trong thế giới đó, phải làm sao cho niềm hy vọng Kitô giáo bừng sáng lên trở lại. Cũng chính vì niềm hy vọng đó mà Chúa Giêsu đã muốn ở lại với chúng ta trong bí tích Thánh Thể, nhằm giúp cho nhân loại được đổi mới nhờ tình yêu của Ngài. Điều đáng cho chúng ta lưu ý khi đọc các sách Tân Ước là các sách Tin Mừng nhất lãm, chỉ tường thuật việc thiết lập bí tích Thánh Thể, Tin Mừng Gioan đặc biệt đưa ra trình thuật việc Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ. Một tấm gương, một bài học nhớ đời về tinh thần phục vụ, và phục vụ trong yêu thương (x. Ga 13,1-20). Tinh thần phục vụ trong yêu thương, phục vụ vô vị lợi mới có sức cải hóa con người và biến đổi xã hội.         Việc công bố cái chết của Chúa “cho tới khi Ngài lại đến” (1Cr 11,26) đòi buộc những ai tham dự vào tiệc Thánh Thể, phải cương quyết dấn thân biến đổi cuộc sống, biến đổi xã hội, để một cách nào đó, cuộc sống ấy hoàn toàn trở thành Thánh Thể. Chính sự biến đổi cuộc sống và sự dấn thân biến đổi thế giới theo đường lối Tin Mừng, làm rạng sáng chiều kích cánh chung của việc Cử Hành Thánh thể và của tất cả đời sống Kitô giáo (x. EdE 20). Qua những điều vừa trình bày, Thánh Thể thực sự là mầu nhiệm đức tin, mầu nhiệm vượt xa lý trí của chúng ta và chỉ có thể được chấp nhận bằng đức tin mà thôi. Đứng trước mầu nhiệm tình yêu này, lý trí nhân loại cảm nhận được sự hữu hạn của mình (x. EdE số 15). ………………………….. 1 X. Cđ. Vat. II, Hiến chế Phụng vụ thánh số 47 : Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã thiết lập Hy Tế Thánh Thể bằng Mình Máu Ngài, để nhờ đó, Hy Tế Thập Giá kéo dài qua các thời đại cho tới khi Ngài lại đến… 2 x. CCCC 1367. 3X. Cđ Tridentino, Khóa XXII, Giáo thuyết về Hy Tế Thánh của Thánh Lễ, chương II, catholiicatholique 1743; la Foi catholique, số 768 4 x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris hominis, 15/3/1979, số 20. 5 5 Cđ. Vaticano II, Hiến chế tín lý Lumen gentium số 11.         +GM. Stephano Tri Bửu Thiên

TIN GIÁO HỘI HOÀN VŨ

Vai Trò Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh

20-07-2014 Hits:840

Vai Trò Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh

Vai Trò Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh   Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, cựu quốc vụ khanh Tòa Thánh, gần đây có dành cho Zenit một cuộc phỏng vấn trước khi...

Xem tiếp...

LINH ĐẠO THÁNH THỂ

PHÉP LẠ THÁNH THỂ

SUY NIỆM THÁNH THỂ

Bánh Hằng Sống 2

20-06-2014 Hits:1458

Bánh Hằng Sống 2

BÁNH HẰNG SỐNG (2) Không ai có thể phủ nhận rằng, ăn uống là một phần không thể thiếu cho sự sống của con người. Sách Lĩnh Nam chích quái cho...

Xem tiếp...

TÀI LIỆU THÁNH THỂ

Truyền Thống Công Giáo Về Thánh Thể Học

15-06-2014 Hits:360

Truyền Thống Công Giáo Về Thánh Thể Học

TRUYỀN THỐNG CÔNG GIÁO VỀ THÁNH THỂ HỌC HƯỚNG VỀ THIÊN KỶ THỨ BA                                                                       Edward J. Kilmartin, S.J. [1] Luận đề mà bài viết muốn trình bày  và minh họa, là như thế này: thần học...

Xem tiếp...

THẦN HỌC THÁNH THỂ

Thánh Thể, Nguồn Lương Thực Thiêng Liêng Của Người Tu Sĩ

Hits:562

Thánh Thể, Nguồn Lương Thực Thiêng Liêng Của Người Tu Sĩ   Đến với Thánh Thể- một mầu nhiệm vượt quá sức cảm nhận của con người, người tu sỹ cần thể...

Xem tiếp...

ĐỨC MẸ THÁNH THỂ